Nhắc về Lương Thế Vinh, chúng ta sẽ nhớ ngay tới danh thơm “trạng Lường” để ca ngợi tài năng toán học hiếm có của ông. Thế nhưng, một cuộc đời được liệt vào hàng hiếm có trong lịch sử dân tộc nào chỉ có những giai thoại toán học, giải đố đỉnh cao? Thông qua các sự tích dân gian, người ta còn nhận ra giữa ông và vị vua đương triều Lê Thánh Tông còn để lại nhiều giai thoại cực thú vị. Một tình bạn đẹp đã cứ thế hình thành, vượt qua những lễ tiết quân thần khắt khe thời phong kiến.

***

Khi tìm hiểu vì sao giữa hai người lại có thể tạo dựng một tình bạn kì lạ như vậy, truyền thuyết dân gian của nhân dân Nam Định cũ còn truyền lại rằng đây là điều đã được trời định:

Tương truyền rằng, khi Quang Thục hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao còn mang thai vua Lê Thánh Tông. Có lần, bà nằm mộng thấy mình được lên Thiên đình. Bà thấy Thượng đế đang sắp xếp nhiệm vụ cho một tiên đồng giáng trần làm vua nước Nam. Tiên đồng đó xin cho thêm một bề tôi giỏi để phù giúp. Thượng đế liền bổ một viên tỳ tướng. Nhưng viên tỳ tướng đó không biết vì sao lại từ chối. Nổi giận, Thượng đế ấn mạnh vào vai tì tướng, bắt phải nhận lệnh.

Về sau này, khi vua Lê Thánh Tông lên ngôi, thái hậu có kể lại giấc mộng lạ đó. Đến khoa thi Quý Mùi (1463), Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên. Lúc vào yết kiến, vua thấy vai ông bị lệch bèn đem chuyện đó báo với Thái hậu. Thái hậu cho gọi Lương Thế Vinh vào xem mặt thì thấy đúng là viên tì tướng đã gặp trong mộng, bà vui mừng nói với vua:

– Đây chính là người bề tôi mà Thượng đế cử xuống!

Vua Lê Thánh Tông biết mình đã tìm thấy được cận thần trời bạn thì mừng rỡ vô cùng! Nhờ vậy mà trạng Lường rất được vua coi trọng tài năng, tin tưởng giao cho nhiều công việc hệ trọng của Đại Việt.

Còn theo cách nhìn của các sử gia, nguyên nhân giúp hai người trở thành bạn thân là bởi vì họ gần như là đồng trang lứa. Cụ thể, Lương Thế Vinh sinh năm Tân Dậu 1441, còn vua Lê Thánh Tông sinh năm Nhâm Tuất 1442. Lại thêm, thông qua cả chính sử lẫn các truyền thuyết trong dân gian, cả hai lại có nhiều tố chất trùng lặp và đều mang tính chất “hút” nhau nếu như gặp người giống mình: Thông minh, quyết đoán đến cứng rắn, nhưng vẫn rất khéo léo trong đối nhân xử thế, có tâm hồn văn nghệ sĩ, thỉnh thoảng lại thích “trêu” người này người kia một tí…

Thành ra, từ ngày vào làm quan, vua Lê Thánh Tông tranh thủ mọi cơ hội để trêu đùa, đánh đố vị Quan Trạng hiếm có. Lương Thế Vinh thì vừa thông minh mà cũng rất khôn khéo, tìm cách đáp lại làm sao cho vừa khiến vua ưng, vừa giữ được chừng mực, mà còn khéo lồng ghép bài học để vua tôi cũng vui, lại có bài học để khắc cốt ghi tâm.

***

Đơn cử như một lần nọ, vua Lê Thánh tông đi kinh lý vùng Sơn Nam Hạ, ghé thăm làng Cao Hương, huyện Vụ Bản (nay thuộc phường Trường Thi, tỉnh Ninh Bình). Đây là quê hương của Trạng nguyên Lương Thế Vinh. Mà chuyến này Quan Trạng cũng đang theo hầu vua, nên coi như cũng vừa hay được về quê.

Khi vua đến thăm chùa làng, đương lúc sư cụ bận tụng kinh, bỗng sư cụ đánh rơi chiếc quạt xuống đất. Nhưng sư cụ vẫn tiếp tục, sau đó lấy tay ra hiện cho chú tiểu cúi xuống nhặt. Nhưng một vị quan tùy tùng của Lê Thánh Tông đã nhanh tay nhặt hộ. Vua Lê Thánh tông thấy vậy, liền nghĩ ra một vế đối như sau:

“Đường thượng tụng kinh, sư sử sứ…”.

(Trên bục tụng kinh, nhà sư sai khiến được sứ (quan)

Câu này oái oăm ở ba chữ “sư sử sứ”, khiến các quan đều chịu cứng! Riêng cụ Lương Thế Vinh cứ để họ suy nghĩ chán chê, còn mình thì ung dung uống rượu, không nói năng chi cả. Vua Thánh Tông thấy lạ, quay sang chỉ đích danh ông phải đối lại, với hy vọng đưa ông đến thế bí:

– Thế nào, quan trạng đối được câu này chăng?

Trạng cười trừ:

– Đối thì đối được, nhưng giờ chưa phải lúc.

Vua lấy làm tò mò lắm, hỏi là lúc nào, nhưng trạng không trả lời. Hồi lâu sau tiệc đãi vua, Lương Thế Vinh lấy cớ say, sai lính gọi bà Trạng tới, rồi sau đó xin phép vua, vịn vào vợ mà về. Vua thấy Trạng mọi khi giỏi ứng đối, thế mà đến bây giờ vẫn chưa đối được câu của mình, tưởng ông “đánh bài chuồn”, lấy làm đắc ý lắm, liền giục:

– Thế nào, đối được hay không thì nói đã rồi hẵng về chứ!

Trạng gãi đầu rồi đáp ngập ngừng:

– Dạ,muôn tâu…thần…đối rồi đấy chứ ạ!

Vua và các quan lấy làm lạ, bèn hỏi trạng vế đối ấy là làm sao. Trạng liền chỉ vào vợ mình, dõng dạc đọc, nào có dáng vẻ của người say:

“Đình tiền túy tửu, phụ phù phu”

(Trước sân say rượu, vợ dìu chồng)

Về đối rất chỉnh, cả câu chữ, âm điệu, lẫn ngữ cảnh, khiến cho vua bật cười, liền ban thưởng rất hậu.

***

Một lần khác, vua Lê Thánh Tông biết Lương Thế Vinh thuở bé nghịch ngợm, hay tắm sông hồ, giỏi bơi lội, nên một hôm chơi thuyền có trạng Lường và các quan lại theo hầu. Đang lúc không ai để ý, vua liền giả vờ say rượu rồi…đẩy tòm ông rơi xuống sông, sau đó tiếp tục cho thuyền chèo đi chỗ khác. Không ngờ Lương Thế Vinh rơi xuống, liền… lặn một hơi thật xa, rồi đến một chỗ vắng bơi lên bờ, sau đó núp vào bụi rậm để không ai nhìn thấy.

Vua chờ mãi không thấy trạng nổi lên. Mặt nước mênh mông không một cái sủi tăm. Bấy giờ mới hoảng hồn, vội cho quân lính nhảy xuống tìm vớt, nhưng cũng mãi chẳng thấy đâu. Đang ân hận vô bờ vì lối chơi đùa quá quắt của mình đến nỗi sắp mất hiền tài, thậm chí sắp khóc đến nơi, thì tự nhiên Lương Thế Vinh từ dưới nước lên ngóc đầu lên cười ngất!

Khi lên đến thuyền rồi, Vinh vẫn cười. Vua vừa mừng vừa giận, liền hỏi:

– Trẫm tưởng khanh ở dưới sông rất tốt, sao còn lên bờ?

Trạng mới tâu:

– Thần ở dưới nước lâu là vì gặp một chuyện rất kì lạ. Thần gặp cụ Khuất Nguyên, danh sĩ nước Tàu thời Xuân Thu. Cụ hỏi thần xuống làm gì. Thần thưa dối là thần chán đời muốn chết. Nghe qua, cụ tròn xoe mắt mắng thần:

“Mày là thằng điên! Tao gặp Sở Hoài Vương và Sở Khoảnh Tương Vương hôn quân vô đạo, mới bỏ nước bỏ dân trầm mình ở sông Mịch La. Chứ mày gặp được bậc thánh quân minh đế, sao còn định vớ vẩn cái gì! Thế rồi cụ đá thần một cái, thần mới về đây.

Lê Thánh Tông nghe xong, thấy Trạng không trách mà còn nịnh khéo, nhắc khéo mình, liền cười lớn, rồi thưởng cho vàng lụa và trọng dụng Trạng hơn nữa.

***

Lần này thì có phần đáng sợ, trong một lần gặp gỡ, vua hớn hở nói với trạng Lường:

– Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa!

Tưởng sẽ được khen, ai ngờ, lần này Lương Thế Vinh không úp mở mà tâu thẳng:

– Lắm con trai là lắm giặc! Không lo sao được!

Vua lấy làm lạ hỏi:

– Ta không rõ sao lại thế?

Trạng tâu không úp mở:

– Ngôi báu chỉ có một. Bệ hạ có nhiều con trai thì càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy phải lo lắm chứ!

Nào ngờ, đúng như lời tiên đoán của Trạng. Sau khi vua Lê Thánh Tông băng hà, con trai Lê Hiến Tông và cháu đích tôn Lê Túc Tông dù tài năng nhưng lại không tại vị được lâu. Lê Uy Mục, con trai thứ hai của Lê Hiến Tông, lên ngôi và lập tức khiến triều Lê đổ nát trong biệt danh “Vua quỷ”. Ông ta không ngần ngại xuống tay với rất nhiều đại thần và hoàng tộc, giở những trò sa đọa khiến ai nấy cũng phải ghê sợ. Bị dồn vào đường cùng, Lê Oanh, một cháu nội khác của vua Thánh Tông, đã khởi binh tiêu diệt Uy Mục, lên ngôi lấy hiệu Tương Dực đế. Nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn ưu dân ái quốc, Lê Tương Dực cũng lại rơi vào sa đọa, bị nhân dân căm ghét rủa là “Vua lợn”. Từ đây, vòng xoáy hoàng tộc, quan đại thần làm binh biến liên tục nổ ra, kéo cả Đại Việt đi xuống. Để rồi chạm đáy vào năm 1527, quyền thần Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng, kéo theo cuộc nội chiến Nam – Bắc triều kéo dài tới 60 năm (1533 – 1593) và tiếp đến là cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh còn tàn khốc hơn khi kéo dài tới 148 năm (1627 – 1775) khiến đất nước chìm trong lầm than và chia cắt…

***

… Và cuối cùng, như để tương ứng với giai thoại được trời định thành một cặp không thể tách rời, ngày 26/8 âm lịch năm Bính Thìn (tức ngày 2/10/1496), Lương Thế Vinh qua đời tại quê nhà. Vua Thánh Tông hay tin thì sốc lắm! Tới mức làm bài điếu tang rất bi thương:

“Chiếu thư thượng đế xuống đêm qua,

Gióng khánh tiên đài kịp tới nhà.

Cẩm tú mấy hàng về động ngọc,

Thánh hiền ba chén ướt hồn hoa,

Khí thiên đã lại thu sơn nhạc.

Danh lạ còn truyền để quốc gia.

Khuất ngón tay than tài cái thế,

Lấy ai làm trạng nước Nam ta!”

Kể từ đó, sức khỏe của vua cũng đi xuống rõ rệt. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Ngày 17/11 âm lịch năm Bính Thìn (tức ngày 21/12/1496), vua Thánh Tông bắt đầu không khỏe. Sang đầu năm Đinh Tị (1497), bệnh của vua bất ngờ trở nặng. Ngày 30 tháng Giêng âm lịch (tức ngày 3/3/1497), vua băng hà ở điện Bảo Quang…

… Đáng sợ ở đây, Quan Trạng Lương Thế Vinh và vua Lê Thánh Tông đều hưởng thọ 55 tuổi!

Ngô Tiến Vinh