Dù có tiếng là người khoan hòa, rộng lượng, ai thích xin chữ, câu đối, thơ, cụ đều thoải mái viết cho, có lần còn tặng không lấy tiền. Tuy nhiên, Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng có những quy tắc ngầm. Hễ là những người ăn ở không tốt, có tật xấu, hay là quan tham, cụ sẽ giở bài “thâm nho” hiểm tới mức kẻ đi xin chữ còn không biết là cụ đang dạy cho những bài học cực kỳ thâm cay, vẫn tự hào treo mấy câu của cụ cho bàn dân thiên hạ nhìn!

***

Đơn cử, ở làng Nãi Văn, thuộc xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cũ (nay thuộc xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình) có một người tên Hàn Soạn. Do gặp vận may và cũng biết cơ chí làm ăn, chắt bóp mà vươn lên thành người có tiền có của. Khi này, anh ta bắt đầu giở thói trưởng giả học làm sang: khinh người, dáng đi điệu đứng khệnh khạng, ngữ khí hách dịch, kẻ cả, rất có vẻ ta đây.

Hàn Soạn làm nhà to, còn xây liền kề một ngôi từ đường lớn làm nơi thờ phụng tiên tổ. Nghĩ tới việc nên có hoành phi, câu đối, anh này biện lễ sang nhà cụ Tam Nguyên để xin. Biết rõ gia cảnh nhà Hàn, cụ tặng cho câu đối:

“Nhất mạch quán thông, vãng giả quá, lai giả tục.

Tam thần cung bái, ấu tại hậu, trưởng tại tiền.”

Khi hỏi giải nghĩa Nôm thì cụ giải là:

“Một mạch thông suốt, người trước qua, người sau tiếp.

Ba vì lễ bái, trẻ lễ sau, già lễ trước.”

Hàm ý ca ngợi “dòng dõi gia giáo” nên mới có sự hưng thịnh của gia đình gã.

Hàn Soạn nghe thế sướng lắm, cho chạm khắc vào hai tấm gỗ quý, sơn son thếp vàng, treo trang trọng hai bên tả – hữu từ đường. Ai vào nhà, Hàn Soạn cũng khéo léo giới thiệu cặp câu đối. Bề ngoài thì khách ai nấy cũng ngợi khen, Hàn Soạn càng vênh váo. Nhưng càng về sau, người ta bắt đầu có cái nhìn săm soi, bới lông tìm vết với gia đình anh ta. Đến khi phát hiện ra ba đời nhà Hàn Soạn từng làm thợ xẻ gỗ thì úi dồi ôi! Chuyện um lên khắp cái vùng chiêm trũng Hà Nam!

Có người hay chữ liền đến nhà Hàn Soạn luận kỹ hơn câu đối cụ Tam Nguyên và rồi ngã ngửa ra: Câu đối còn có một cách dịch Nôm khác, mô tả những động tác của cha con thợ xẻ:

“Một mạch cưa thông suốt, kẻ kéo qua, người kéo lại.

Ba vì lạy nhau, con lạy trước, cha lạy sau.”

Sâu xa, cụ viết câu đối này cho gã để nhắc nhở: Trước kia ba đời nhà anh làm thợ xẻ, cũng nghèo khổ như ai. Bây giờ mới khá giả chớ vội vênh váo, khinh suất, chẳng hay ho gì đâu!

Hàn Soạn toan hạ cặp câu đối xuống, nhưng lại cảm thấy xót tiền của bỏ vào việc mua gỗ và thuê người trạm khắc. Hơn nữa, anh ta nghĩ: Ở cái vùng quê đa phần là nông dân mù chữ này mấy ai suy diễn được cái ý thứ hai của câu đối!? Thế là cứ treo!

***

Hay một lần khác, trong cuốn “Nguyễn Khuyến và giai thoại” do Hội Văn học – Nghệ thuật Hà Nam Ninh ấn hành năm 1987, do Bùi Văn Cường sưu tầm và biên soạn có chép lại một giai thoại về việc cụ dùng phép chiết tự để mắng tên tri huyện Thanh Liêm khi y đến xin cụ một bức hoành phi. Vốn dĩ viên quan này vừa tham vừa keo kiệt lại thích làm sang. Để tỏ ra mình cũng là tay biết chơi chữ, nhân một lần có việc đi qua làng, quan rẽ vào nhà cụ Nguyễn Khuyến xin mấy chữ để về treo ở công đường.Biết rõ bản chất hắn, cụ nói ngay:

– Được thôi, tưởng gì chứ chữ thì có ngay, nhưng đắt lắm đấy! Mỗi chữ mười quan. Thầy cần mấy chữ, cứ việc tính tiền ra mà lấy.

Viên tri huyện nghe tới đó thì giật mình nhưng đã trót ngỏ lời với cụ rồi không thể chạy làng được, mà hoành phi thì không thể xin một chữ. Cuối cùng y đành bấm bụng xin hai chữ. Rồi cụ hẹn mai cho người mang đủ tiền đến lấy.

Viên quan về nhà thuật lại chuyện cho vợ nghe, mụ vợ giãy nảy:

– Thôi chết rồi! Thế là hỏng rồi! Chỗ nào chứ chỗ cụ Tam Nguyên, ông làm thế chỉ tổ lòi tính keo kiệt ra để cho người ta khinh thường. Này nhé, hoành phi hai chữ là ít nhất, người ta cũng thường xin thế. Nhưng đằng này thì khác: Cụ đã ngã giá trước mà mình chỉ xin có hai chữ, có phải rõ ra mình bủn xỉn, tiếc tiền không?

Nghe vợ nói thế viên quan mới vỡ lẽ là mình dại nên lại bấm bụng sai người mang 40 quan tiền đến xin cụ cho bốn chữ. Dù rất xót của nhưng viên quan cũng được mở mang mặt mày vì cụ cho bốn chữ rất hay là “Thiên lý lương nhân” (千里良人), tạm dịch là “Nghìn dặm người tốt”.

Nghĩ đến thân phận mình làm quan là phụ mẫu của dân, hoành phi như thế nghĩa là có tiếng tốt được người ta đồn xa đến nghìn dặm. Ngẫm nghĩ vậy nên vợ chồng viên tri huyện rất mừng, bèn chọn gỗ tốt thuê thợ khắc ngay!

Ít lâu sau, có một anh học trò nghèo không biết nói năng thế nào mà bị viên quan huyện nổi trận lôi đình rồi sai lính trong phủ nọc ra đánh giữa công đường. Anh học trò bị đánh đau nhưng chẳng dám nói lời nào trước mặt viên quan. Đến lúc được tha về, anh ta mới hậm hực quay ra vừa đi vừa ngoái cổ lại nhìn bức đại tự rồi lẩm bẩm:

– Hèn gì mà cụ Tam Nguyên chẳng chửi cho! Đáng kiếp.

Lúc đó, mấy tên lính nghe thấy liền vào tâu với viên quan. Quan nghe thấy chột dạ mới cho tên lính gọi anh học trò lại rồi gặng hỏi về bốn chữ “Thiên lý lương nhân” có nghĩa là làm sao. Nhưng anh học trò chỉ nói:

– Với bốn chữ kia là cụ Tam Nguyên chửi quan mà quan không biết!

Đến lúc này, viên quan phải nài nỉ mấy lần, sau phải cho anh học trò một ít tiền làm lộ phí thì anh ta mới giảng cho.

Này nhé, trong “Thiên lý lương nhân”, chữ “Thiên” đặt trên chữ “Lý” thành chữ “Trọng” (重), chữ “Nhân” đặt trên chữ “Lương” thành chữ “Thực” (食). Với bốn chữ “Thiên lý lương nhân”, cụ Nguyễn Khuyến có thâm ý chửi quan là “Trọng thực” (重食), tức là THAM ĂN!

Ngô Tiến Vinh