Ngày nay, chuyện “khều donate”, “xin tên lửa”… của người làm nội dung trên mạng xã hội đã chẳng còn xa lạ: có ai viết bài hay, kể chuyện duyên, đánh điện tử giỏi, là dân tình lại rủ nhau gửi chút quà ủng hộ. Nhưng ít ai biết rằng, gần trăm năm trước, cụ Tản Đà, “dấu gạch nối” của thi nhân tài tử nước Nam hai thế kỷ XIX – XX, đã từng “mở đường” cho thú ấy bằng một màn “khều donate” tao nhã và duyên dáng bậc nhất trong văn đàn Việt: đăng thơ vu vơ mà vẫn nhận được… rau sắng chùa Hương!
Chuyện xảy ra năm 1923. Khi ấy, Nguyễn Khắc Hiếu, tức thi sĩ Tản Đà, đang làm chủ bút tờ Hữu Thanh. Cụ vốn có một thú ăn chơi rất dân dã là rau sắng chùa Hương. Đây là thứ “ngọc thảo”, mọc nơi núi đá Hương Sơn (nay thuộc xã Hương Sơn, Hà Nội), chỉ đầu xuân mới có. Loại rau này lành tính, không nóng cũng không lạnh, thơm ngọt thanh tao. Người thường ăn vào thấy ngon miệng. Người già yếu thấy khỏe ra. Rau sắng có thể nấu suông cũng được. Còn nếu có cua đồng, thịt nạc băm, cá… thì thành cực phẩm!
Chỉnh bởi sự thơm ngon đó mà năm nào cũng vậy, cứ đến mùa hội chùa Hương là cụ lại khăn gói lên đường trẩy hội, vừa ngắm cảnh non nước, vừa thưởng món ngon của trời. Nhưng năm ấy, trời không chiều lòng người! Cụ túng quá, trong túi chẳng còn đồng nào. Nhìn người ta nô nức đi hội, tay xách rau sắng, lòng cụ nóng như lửa đốt. Đành cầm bút mà thở than, viết mấy câu lục bát đăng ngay trên tờ báo của mình:
“Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, mà đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú, cái cà thì thâm.”
Thơ đăng ra chỉ là lời than chơi cho đỡ nhớ mùi rau sắng, nào ngờ đời lại hóa thơ, thơ lại hóa chuyện để đời!
Vài hôm sau, tòa soạn Hữu Thanh nhận được một bưu kiện từ Phủ Lý (Hà Nam cũ), gửi qua “nhà dây thép”, tức bưu điện. Trong gói ấy là một mớ rau sắng còn tươi, được gói giấy cẩn thận, kèm một tờ giấy nhỏ với mấy dòng chữ nắn nót:
“Nguyễn tiên sinh nhã giám:
Kính dâng rau sắng chùa Hương
Tiền đò đỡ tốn, mà đường đỡ xa
Không đi, xin gửi lại nhà
Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.
– Đỗ tang nữ bái tặng –”
“Đỗ tang nữ” nghĩa là người con gái hái dâu họ Đỗ, một cái tên vừa kín đáo, vừa nho nhã. Không ai biết nàng là ai, chỉ biết người ấy tinh tế, biết thơ, hiểu tình, lại có lòng. Tản Đà đọc xong thì thích chí vô cùng. Ông vốn tính tài tử, thấy có người tri âm thì lòng vui như mở hội. Cụ liền “đăng trạng thái” cảm tạ ngay sau đó, cũng bằng một bài thơ lục bát:
“Mấy lời cảm tạ tri âm
Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình
Đường xa rau vẫn còn xanh
Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.
Yêu nhau xa cách càng yêu
Dẫu rằng suông nhạt mà nhiều chứa chan
Núi non khuất nẻo ngư nhàn
Tạ lòng xin mượn Thế Gian đưa trình.
– Nguyễn Khắc Hiếu bái phục –”
Và thế là, chỉ từ một bài thơ “than đói rau”, bỗng nảy ra một màn tặng thơ – nhận rau – họa thơ đáp lại, vừa duyên dáng vừa tao nhã. Nếu ở thời nay, người ta gọi đó là “donate”, thì quả thật Tản Đà chính là người đầu tiên “khều donate” bằng… lục bát”!
Chuyện còn thú vị hơn nữa ở chỗ, phải đến năm 1928, tức năm năm sau, người đời mới biết “Đỗ tang nữ” là ai. Hóa ra nàng chính là nữ sĩ Song Khê, tên thật Đỗ Thị Khê, em ruột của Tương Phố, tác giả bài thơ nổi tiếng Giọt lệ thu. Khi gửi mớ rau sắng, Song Khê đang là nữ hộ sinh cao cấp ở Phủ Lý, nên bưu kiện được gửi từ đó. Từ cái duyên “tặng rau họa thơ” ấy, hai người trở thành bạn văn, bạn tri âm. Họ trao đổi thư từ, gửi thơ qua lại, mến nhau bằng lòng cảm mến trong sáng và trọng nghĩa văn chương.
Đến 1927, theo dõi An Nam tạp chí, biết cuộc sống của Tản Đà lâm vào cảnh túng thiếu, Song Khê đã gửi tặng tác giả Thề Non Nước trọn một tháng lương kèm theo những lời động viên, khích lệ. Một năm sau, nàng chuyển công tác ra Kiến An (Hải Phòng), nơi cũng có người bạn thơ thân thiết của Tản Đà. Và chính ở đó, vào ngày 21/3/1928, hai người mới có dịp gặp nhau lần đầu và cũng là lần cuối. Một cuộc đàm thơ thật sự, để lại một trong những giai thoại đẹp nhất của văn đàn đầu thế kỷ XX. Về sau, trong một lá thư gửi bạn là Hồ Đình Chữ (Huế), bà Song Khê có viết lại về kỷ niệm để đời:
“Tuy sinh cùng nước, cùng thời, với lòng cảm phục văn tài vô hạn nhưng tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết và tìm gặp tiên sinh bao giờ. Mãi đến năm 1928, khi tôi ở Kiến An, có một bữa (21 tháng 3), một văn hữu ở Hải Phòng đưa thi sĩ Tản Đà đến thăm tôi mà không hề giới thiệu. Tiếp chuyện độ nửa giờ, người bạn tôi cùng ông khách ra về, sau này tôi mới biết vị khách đó là thi sĩ Tản Đà…”
***
Ngẫm lại, cái “khều donate” của Tản Đà không phải xin xỏ, mà là một cách sống rất thơ. Ông thiếu, nhưng thiếu trong phong thái tự do, dí dỏm. Mọi khó khăn trong đời đều được ông chuyển hóa ra thơ. Trong thơ ông, có than đời, nhưng đọc kỹ thì thấy bi lụy lại không hiện hữu, chỉ cười cợt bằng vần điệu. Vì thế, người đọc thương yêu cụ, kể cả trong những lúc cụ kể khổ, than chán đời trong thơ, nhưng tuyệt không thấy thương hại.
Còn nữ sĩ Song Khê, người con gái “hái dâu họ Đỗ” ấy, cũng thật đáng mến. Nàng không chỉ tặng rau, họa thơ, mà sau này còn gửi tiền giúp bạn văn khi ông gặp khó. Ấy là một tình bạn vong niên thanh tao, một kiểu tri âm mà bây giờ khó tìm: giữa nam và nữ, nhưng trong sáng, quý trọng nhau bằng tài và tâm. Chỉ một mớ rau, mà nói được bao nhiêu điều đẹp của con người thời ấy.
Tản Đà từng nói: “Đời đáng chán, nhưng thơ đáng yêu.” Quả vậy, ông có thể chán đời, nhưng chưa bao giờ chán thơ. Bởi thơ là thứ giữ lại chút thanh khí giữa một xã hội đang đổi thay, khi đồng tiền bắt đầu chen chân vào chốn văn chương. Một bát canh rau sắng, một bài họa lục bát, một chuyến thư gửi qua nhà dây thép. Tất cả, làm nên một giai thoại vừa ngọt ngào vừa tinh khiết, khiến người đời sau đọc lại mà thấy như nghe mùi xuân trên núi Hương.
Bây giờ, khi người ta “gọi donate” bằng mã QR hay “quả tên lửa”, “trứng”, nhớ lại chuyện cụ Tản Đà mà bật cười. Đúng là “thi nhân xưa” đã đi trước thời đại thật. Chỉ khác là, thay vì gửi tiền, người ta gửi… rau sắng; và thay vì cảm ơn bằng lời, thi sĩ cảm ơn bằng… thơ. Bề ngoài tưởng là giao dịch, mà chứa chan tình người và nghệ thuật. Cái “donate” ấy, nếu tính bằng vật chất thì chẳng đáng bao, nhưng nếu tính bằng lòng tri âm, thì vô giá. Vì đâu chỉ có rau, có thơ, mà còn có cả một tấm lòng thơm thảo, một phong vị thanh tao của người xưa – thứ mà thời nay, giữa muôn vàn ồn ã, ta vẫn thèm được hít hà, như một bầu thanh khí của chùa Hương.
Ngô Tiến Vinh





