Trong cuộc đời nằm trọn vẹn trong thế kỷ XX của mình, Nguyễn Công Hoan từng trải qua đủ vai trò: nhà văn, người lính, người cán bộ, người thầy, và sau hết, một người chồng, người cha, người ông trong một mái ấm nhỏ giữa lòng Hà Nội. Ấy vậy mà, như một lẽ tự nhiên, dù ở cương vị nào, cái chất “người trào phúng” trong ông vẫn không thể lẫn. Cả trong gia đình, nơi vốn là chốn yên ấm, nghiêm cẩn, ông vẫn không quên tạo nên những câu chuyện thú vị để đời, để con cháu mỗi dịp xôm tụ lại có được những trận cười sảng khoái, cùng những bài học hay về tình gia đình.

***

Nói không ngoa, sự thông minh đầy chất thơ văn của của Nguyễn Công Hoan có lẽ đã bắt đầu từ một quy tắc rất thú vị ông nội Nguyễn Đức Liên. Dòng họ Nguyễn làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang (nay thuộc xã Văn Giang, Hưng Yên) của nhà văn có một “nét khác đời” rất đẹp, rất riêng, không phải bằng lời nói, mà bằng cách đặt tên.

Lẽ thường, các dòng họ Việt hay đặt tên đệm là “Văn” cho nam, “Thị” cho nữ, hoặc dùng một chữ đệm cố định để nhận ra nhau. Nhưng họ Nguyễn của Nguyễn Công Hoan lại có một quy ước thú vị: tên đệm của con cháu phải lần lượt nối nhau bằng tám chữ: Đức – Đạo – Công – Tài – Trường – Thiên – Thế – Tộ. Mỗi đời một chữ, rồi khi hết vòng, lại quay về chữ “Đức”.

Theo lời kể của con cháu, người khởi xướng quy ước này chính là cụ Nguyễn Đức Liên – ông nội của nhà văn. Ý nghĩa của tám chữ này khi dịch về nghĩa thuần Việt thật giản dị mà sâu xa:

 “Có đạo đức, có tài năng, thì tiếng tăm được lưu truyền trên thế gian này mãi mãi.”

Nguyễn Công Hoan rất tâm đắc điều ấy. Ông bảo, “cái hay của nó là khiến con cháu trong họ đi đâu cũng nhận ra nhau”. Thật vậy, chỉ cần nghe ai đó mang tên có đệm một trong tám chữ ấy, lại quê Xuân Cầu, thì có thể chắc ngay: họ hàng cả đấy! Cách đặt tên ấy vừa như một lời dạy đạo đức gia phong, vừa là một trò vui chữ nghĩa – kiểu nghiêm mà không nặng đúng tinh thần Nguyễn Công Hoan.

***

Và giờ thì đến những giai thoại ông trêu đùa phu nhân theo lời kể của ông Nguyễn Trường Đại, cháu nội nhà văn!

Những năm chiến tranh phá hoại, căn nhà số 66 phố Thợ Nhuộm là nơi ông sống cùng phu nhân và các con cháu. Khi ấy, bom đạn có thể rơi bất cứ lúc nào, nên gia đình phải đào hầm tránh bom ngay trong sân. Một lần, còi báo động hú dài, cả nhà ùa xuống hầm. Chỉ riêng Nguyễn Công Hoan vẫn đứng trân ngoài sân, ngửa mặt nhìn lên trời.

Phu nhân hoảng hốt kêu:

– Ông ơi, xuống đi, không máy bay nó bắn chết bây giờ đấy!

Nào ngờ, ông vẫn thản nhiên đáp, giọng khô mà cười:

– Bà yên tâm, nó có nhìn thấy tôi đâu mà nó bắn!

Câu trả lời ấy khiến cả nhà vừa buồn cười vừa lo. Ấy là cái lý của nhà văn trào phúng: luôn nhìn mọi sự việc bằng con mắt pha trò, kể cả giữa ranh giới sống chết. Với Nguyễn Công Hoan, chiến tranh dẫu ác liệt đến mấy, nếu còn giữ được một nụ cười, thì con người vẫn thắng!

Năm 1968, chiến tranh ác liệt, cả gia đình phải sơ tán về quê bà nội ở thôn Đôn Thư, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai cũ (Hà Nội). Hàng ngày, bà nấu cơm cho ông và các cháu ăn. Ông nghiện thuốc lá, thỉnh thoảng uống rượu. Nhất là lúc có chuyện gì bận tâm, ông lại nhâm nhi chén rượu.

Một hôm, bà đang loay hoay nấu cơm trong bếp, ông dọn cái mâm ra, mang một chai rót ra chén, giả vờ ông cháu uống rượu để… trêu bà. Thật ra, rượu gì đâu, chỉ là chai nước trắng! Ông bảo các cháu ngồi vòng tròn, đưa cho mỗi đứa một chén. Phu nhân nhà văn từ bếp đi lên, trông thấy cảnh ấy, hốt hoảng kêu toáng:

– Trời đất ơi, ông lại còn đầu độc chúng nó à?

Ông nghiêm giọng, ra vẻ triết lý:

– Bà! Tôi có việc suy nghĩ, tôi phải uống!

– Nhưng sao ông lại cho chúng nó uống rượu?

Ông giả vờ giận:

– Bà nói nữa, tôi đổ hết rượu bây giờ!

Nói rồi, ông đùng đùng đứng dậy, đổ hết “rượu”. Bà sợ quá. Lũ trẻ chúng tôi không nhịn được nữa, cười phá lên. Lúc này bà mới biết ông… trêu bà! Với người khác, đó là chuyện nhỏ. Nhưng với Nguyễn Công Hoan, trêu đùa cũng là một cách yêu thương.

Những năm cuối đời, Nguyễn Công Hoan phải vào viện vài lần. Đến khi này, mới nảy một chuyện khiến ông day dứt: Trong cuốn “Đời viết văn của tôi”, ông đã kể tỉ mỉ mọi chuyện đời văn, nhưng không nhắc đến vợ một dòng nào. Bà buồn lắm! Thành ra, đang nằm trên giường bệnh, một hôm ông tâm sự với bà:

– Bà biết không, đời tôi mà nếu không gặp bà thì không thể viết văn được cho đến bây giờ. Cho nên trong sự nghiệp của tôi có một nửa của bà.

Bà Yến lặng người, nước mắt trào ra.

***

Nhờ một mái ấm chan chứa yêu thương, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã sinh ra ba người con tài ba. Rồi từ chính nền tảng gia đình ấy, họ lớn lên, trở thành những gương mặt đóng góp cho đất nước. Người con trai lớn, Nguyễn Tài Khoái, đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Người con trai còn lại là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Tài (tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông), nguyên Thứ trưởng Bộ Công an. Con gái út Nguyễn Thị Tài Hồng của ông chọn nghiệp viết như cha với bút danh Lê Minh.

Trong ký ức của con cháu, từ nhỏ họ đã sống trong một gia đình “văn học và cách mạng”. Cha – nhà giáo, nhà văn – luôn dạy rằng: “Con người sống phải biết căm thù bọn bóc lột và thương yêu những người cùng khổ.” Khi những người con lớn lên, họ không chỉ thấm được tinh thần đó mà còn hành động theo: từ việc tham gia kháng chiến, cho đến viết văn, xây dựng văn hóa, họ đều ghi dấu bằng chính tiếng nói và việc làm của mình.

Gia đình đó, do vậy, không chỉ là chốn trú thân của vị thi sĩ trào phúng, mà còn là vườn ươm nhân cách. Những bữa cơm, những trò đùa giữa cha mẹ – con cái, những câu chuyện văn chương và cách nhìn đời nhẹ nhàng mà sâu sắc của ông Hoan đã thấm vào mỗi người con. Và họ, lớn lên, đã trở thành người công dân đóng góp cho xã hội: người hi sinh, người giữ lực lượng vũ trang, người cầm bút nghiên ngẫm về thế giới.

Những vần thơ, những truyện ngắn châm biếm của cha không chỉ là tác phẩm hướng ra thế giới bên ngoài, mà còn là lời nhắc nhở trong nhà: vui với đời, nhưng đừng quên trách nhiệm với người khác. Nhờ mái ấm ấy, Nguyễn Công Hoan không chỉ để lại một di sản văn học mà còn trao truyền một di sản nhân cách – và trong sự tiếp nối ấy, thầm lặng nhưng mạnh mẽ, con cái ông đã và đang cống hiến rất nhiều cho đất nước này.

***

Dù nhà văn Nguyễn Công Hoan đã rời xa chúng ta từ năm 1977, hưởng thọ 74 tuổi. Nhưng cái hài hước, thông tuệ và hồn nhiên ấy vẫn còn vang trong từng tác phẩm mà ông viết, từng giai thoại người xung quanh kể lại. Có lẽ, điều đẹp nhất ở ông không chỉ là những truyện ngắn trào phúng bất hủ, mà là cách ông sống trào phúng cả với chính đời mình, nhẹ nhõm, tự tại, luôn thấy niềm vui giữa những điều nghiêm trọng nhất. Nếu Nguyễn Công Hoan là người đã khiến cả xã hội phải soi mình trong tiếng cười, thì chính trong cuộc đời tiếng cười ấy lại là thứ giữ mọi người ở gần nhau nhất.

Và có lẽ, đó chính là di sản thật sự của ông: Một nụ cười vẫn còn nguyên hơi ấm, giữa thế gian và những trang sách vốn quá nhiều điều nặng nề.

Ngô Tiến Vinh