Tháng 10 vừa qua, tôi dõi theo lễ trao Giải Nobel Văn học như mọi năm, nhìn thế giới gọi tên những tâm hồn đã gieo được hạt chữ vào nhân loại. Khi ánh đèn sân khấu ấy tắt đi, một nỗi bâng khuâng chậm rãi dâng lên: liệu rồi sẽ có một ngày nào đó, văn chương Việt Nam được xướng danh giữa trời Âu, như một nhịp cầu bắc ra từ mảnh đất hình chữ S, mang theo tiếng nói riêng của dân tộc này?
Điều khác nữa khiến tôi ngẫm nghĩ, là văn hóa Việt Nam đang hiện diện khắp nơi: trong tô phở, chiếc áo dài, tiếng hát quan họ, những ngôi chùa trầm mặc, đờn ca tài tử và cả những điệu chầu văn nửa mê nửa tỉnh… Ẩm thực, âm nhạc, tín ngưỡng của chúng ta được thế giới ca tụng, đăng báo, làm phim, làm triển lãm. Nhưng văn chương Việt, cái phần tinh túy của linh hồn dân tộc, vẫn lặng lẽ đứng bên lề, chờ một ai đó đủ sức dịch, hiểu và yêu giùm.
Thực ra, văn hóa Việt chưa bao giờ thiếu sức lan tỏa. Một bộ phim Việt Nam thắng giải quốc tế, một nhà thiết kế mang trang phục truyền thống ra thảm đỏ nước ngoài, một món ăn khiến thực khách ngoại quốc trầm trồ… những điều ấy chứng minh rằng “văn hóa Việt” không hề nhỏ bé. Nhưng văn chương có lẽ khác. Nó đòi hỏi cao hơn, nhất là ngôn ngữ (con đường hẹp và khó đi) để đến được với thế giới.
Việt Nam ta từng có những tài năng văn chương khiến cả nhân loại phải cúi đầu. Nguyễn Du với Truyện Kiều đã chạm đến tầng sâu nhất của nhân tâm; Hồ Xuân Hương, người đàn bà dám nói tiếng nói của phái yếu trong xã hội nặng lễ giáo; hay những nhà văn hiện đại như Nam Cao, Nguyễn Minh Châu… mỗi người là một mảnh hồn Việt gửi vào thời đại. Nhưng những áng văn ấy, khi dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, thường mất đi một phần linh hồn.
Cá nhân tôi cho rằng dịch thuật chính là yếu tố quan trọng nhất. Ở Việt Nam chúng ta không thiếu những người viết giỏi, chỉ thiếu người đưa chữ Việt ra thế giới một cách trọn vẹn. Tôi từng biết đến The Sorrow of War là bản dịch tiếng Anh của Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh). Câu chuyện ấy, với cách kể đậm chất Việt, đã khiến độc giả quốc tế nghẹn ngào, để thấy chiến tranh không còn là vấn đề của riêng một đất nước, mà là vết thương chung của nhân loại. Cái buồn ấy, là nhịp cầu hiếm hoi nối văn chương Việt với thế giới. Một ví dụ khác là tuyển tập Night, Again: Contemporary Fiction from Vietnam, gồm 12 truyện ngắn đương đại, dịch sang tiếng Anh. Mỗi câu chuyện là một mảnh nhỏ của đất nước sau chiến tranh. Ta sẽ thấy một Việt Nam đầy vết thương nhưng không ngừng hồi sinh. Tập sách từng được giới phê bình phương Tây hết sức khen ngợi.
Nhưng song song đó, nhiều công trình nghiên cứu như English-Vietnamese Translation Methods chỉ ra một thực tế: dịch thuật Việt Nam vẫn thiếu tính hệ thống, thiếu đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp được đào tạo sâu về văn học. Vì thế, nhiều bản dịch văn học Việt sang tiếng nước ngoài vẫn rơi vào tình trạng “đọc được nhưng không chạm được”.
Nhật Bản có Kawabata Yasunari, người dùng văn chương để khắc họa tinh thần Á Đông bằng nét tinh tế; Trung Quốc có Mạc Ngôn, kết hợp hiện thực và huyền ảo để phơi bày bản chất con người; còn ta tự hào có Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới. Nhưng giọng nói văn chương của chúng ta ngày nay vẫn chưa vang tới Nobel, bởi ta chưa thật sự có chiến lược để đưa văn chương ra toàn cầu, như cách điện ảnh, thời trang hay ẩm thực đã làm. Trong khi nhiều nước có quỹ quốc gia tài trợ dịch thuật, tổ chức hội chợ sách, giải thưởng quốc tế dành riêng cho văn học bản địa. Việt Nam vẫn đang thiếu nhiều những bàn tay tổ chức như thế. Tôi từng chứng kiến những nhà văn trẻ tự mình dịch truyện sang tiếng Anh, rồi đăng ở các nền tảng quốc tế. Chỉ mong ai đó ở bên kia đại dương đọc và hiểu. Hành trình đi tìm người đọc của văn chương Việt luôn gian nan như thế.
Nếu nói về bản sắc, thì văn chương Việt chưa bao giờ nghèo. Hãy nhìn vào Truyện cổ tích Việt Nam, Song ngữ Việt – Anh, nơi những câu chuyện dân gian, tín ngưỡng và nhân sinh Việt được tái hiện bằng hai thứ tiếng. Những tập sách ấy, dù đơn sơ, đang là cửa ngõ đầu tiên để trẻ em thế giới hiểu về tâm hồn người Việt. Hay ngay cả trong các bản dịch ngược như Trạm Dừng Cuối Ở Phố Chợ, khi một tác phẩm nước ngoài được Việt hóa, ta cũng thấy rõ khả năng tiếp biến, sáng tạo ngôn ngữ của người Việt. Chính sự nhạy bén ấy khiến tôi tin rằng, chúng ta có thể làm điều ngược lại, mang Việt ra thế giới
Hơn một năm nay, điều tôi khá vui là càng tìm hiểu sâu càng biết đâu đó vẫn có những người âm thầm làm việc ấy. Những biên tập viên kiêm dịch giả, những cây bút trẻ viết song ngữ, những dự án tự dịch, tự in, tự quảng bá. Họ đang mở lối cho tương lai, nơi chữ Việt không còn bị giam hãm bởi ngôn ngữ, mà tự do bơi trong đại dương của nhân loại. Để rồi biết đâu một ngày không xa, giữa những cái tên xa lạ của lễ Nobel, có thể vang lên một cái tên Việt. Tôi tin, khi chúng ta học cách yêu và đầu tư cho văn chương như đã từng làm với phở, áo dài, hay phim ảnh… thì giải Nobel kia sẽ không còn là giấc mơ quá xa. Vì chữ nghĩa Việt, vốn không bao giờ yếu mềm. Nó chỉ đang chờ một ngọn gió, để bay xa hơn mà thôi.
(Bài viết này chỉ là đôi dòng trăn trở và góc nhìn về một trong số những hạn chế, khi đưa văn chương Việt Nam ra quốc tế. Bài viết có dẫn chứng một số tác phẩm được cho là dịch thuật thành công, không cổ xúy cho bất kỳ quan điểm chính trị, lịch sử, hoặc lưu hành các ấn phẩm chưa được cấp phép trong nước.)
Gợi ý tìm đọc một số tác phẩm được nhắc đến trong bài viết:
The Sorrow of War – Bảo Ninh (dịch tiếng Anh: Frank Palmos): Bi kịch và nhân tính trong chiến tranh Việt Nam.
Truyện Cổ Tích Việt Nam – Song ngữ Việt – Anh: cách dân gian Việt được giới thiệu ra thế giới.
Trạm Dừng Cuối Ở Phố Chợ: bản dịch ngược cho thấy năng lực tiếp biến của ngôn ngữ Việt.
Thanh Ngân





