Người đời nhắc đến Nguyễn Khuyến thường nghĩ ngay đến Tam Nguyên Yên Đổ, vị đại khoa bước ra từ những mùa thu lấp lánh nước ao làng, người mà chỉ một chiếc lá vàng rơi cũng đủ làm bật lên cả một thời phong vận cũ. Ấy vậy mà trong sự nghiệp thi ca “đường bệ” ấy của cụ, lại có một câu chuyện rất… bi hài, trông chẳng khác gì một màn hề chèo. Vâng, đó là vụ cướp “lịch sử” xảy ra ở nhà một ông quan tuần về hưu, vụ cướp mà vì một lý do nào đó, lại lọt thẳng vào thơ Việt Nam.

***

Chuyện bắt đầu ở làng Tiên Khoán, vùng Bình Lục, Hà Nam cũ, nơi có ông quan tuần Trần Văn Ước, dân quen gọi nôm là “ông Tuần”. Cụ hơn cụ Nguyễn Khuyến trên dưới chục tuổi. Ông vốn thông minh, chăm học, từng trải qua những năm tháng cơ cực đến mức không có tiền mua dầu thắp đèn, phải quét lá đa khô đầu làng, trong chùa để gom về đốt mà học bài. Sau bao phen lận đận thi cử, cuối cùng cụ cũng đỗ “Cử nhân thiêm thủ”, rồi xuất chính, làm quan dưới triều Tự Đức. Khi đương chức, ông được tiếng người thẳng thắn, liêm chính, không biết nịnh bợ, không biết “che chiều gió”. Vua Tự Đức từng ban biển đề “Liêm chính”, áo mũ cân đai hia hốt đủ cả, để biểu dương một vị quan sạch.

Nhưng thời cuộc thì chẳng sạch như ông. Quân Pháp tràn vào, Bắc Kỳ rồi toàn cõi rơi vào vòng đô hộ. Trong cơn binh lửa, ông Tuần bị nghi giấu súng thần công và phân tán binh lính, bị bắt giam một tháng, nhục hình đủ kiểu: nhịn đói, bắt ngồi lên bàn chông bằng gỗ đóng đinh ngược. Vậy mà ông vẫn nhất quyết không khai. Giam chán không khai thác được gì, bọn Pháp buộc phải thả. Quan “Khâm mạng đại thần”  – Đặc phái viên của triều đình – sau đó muốn phong ông lên Tổng đốc Nam Định, nhưng vì chán nản thời cuộc, ông xin cáo quan về quê mở trường dạy học. Một ông quan hưu đúng nghĩa: thanh sạch, giản dị, và… hơi “cứng đầu”!

Nhà ông Tuần ngày ấy vừa có học, vừa có ruộng, đông người làm, mỗi mùa gặt thu mấy chục tấn thóc, phải xây kho, đóng vựa. Nói gọn lại: một gia đình giàu có chính hiệu thời phong kiến.

Mà giàu ở thời loạn này thì… dễ gặp nạn!

Vào một đêm đông năm 1889, trời tối như đáy chum, mưa gió tạt vào mặt cứ như ai ném đá. Giữa cái tối mịt ấy, không biết từ phương nào, một toán cướp đông như trẩy hội, người ta đoán có thể hàng trăm tên, cầm đuốc sáng rực, dùng búa to, thuổng sắt phá tan cổng và tường nhà cụ Tuần. Gia nhân, con cháu chỉ chừng hai ba chục người, thấy cảnh ấy thì hoảng hồn, mạnh ai nấy chạy, không dám chống cự.

Thôi thì từ thóc gạo, trâu, lợn đến mâm đồng, thau đồng, đồ thờ ngũ sự, quan tiền đồng xâu chuỗi, bát đĩa cổ, đối trướng treo trong nhà… đều bị bọn cướp vơ vét sạch sành sanh.

Câu chuyện đến đây tưởng đã đủ bi kịch, nhưng không, cái hài nằm ở chỗ này: khi lũ cướp xông vào nhà, riêng cụ Tuần thì… ngồi rất điềm nhiên ở án thư với ngọn đèn và chồng sách Hán tự. Tâm thế ung dung như thể đang xem người ta sửa nhà chứ không phải bị cướp! Dân gian truyền rằng cụ thậm chí còn bảo toán cướp:

– Các ông muốn lấy gì của cải của tôi thì cứ lấy, nhưng đừng giết người!

Một tên cướp thấy chiếc tráp sơn khảm nơi cụ Tuần ngồi tựa, thứ mà người học rộng như ông quý lắm, liền cho có vật báu. Chúng xô cụ ra, giật lấy, mở nắp văng thấy tung tóe. Trong đó có mấy ngọn bút lông, vài thỏi mực Tàu, cặp kính lão trắng và vài nén bạc đĩnh lóng lánh. Tên cướp liền đút mấy nén bạc vào túi, ngắm nghía cái tráp, thấy đẹp, liền bỏ luôn vào tay nải khoác ở vai…

Ở bên ngoài, khi dân làng hay tin bọn cướp đang cướp bóc tại nhà cụ Tuần, liền nổi trống, mõ rồi bảo nhau:

– Cướp nhà cụ Tuần to lắm, phải gọi ngay ông Bình Thành mới được.

Sau đó rất nhiều người hô theo

  • Ông Bình Thành ơi, ra đánh cướp nhà cụ Tuần nhanh lên, nhanh lên!

Ông Bình Thành, cử nhân võ, đúng kiểu “hùm thiêng hạ sơn”. Lúc ấy đang ngủ nhờ nhà bà con trong làng Tiên Khoán. Nghe tiếng kêu, ông giật ngay cái sào tre phơi bông sợi của chủ nhà, chạy ù đến. Khi ông chưa kịp quá cổng, bọn cướp đã bắt cụ Tuần và người cháu đích tôn làm con tin để thoát thân. Dân làng thấy ông lão bị lôi ra làm lá chắn sống thì chùn tay, không dám tiến thêm.

Nhưng đến khi ông Bình Thành lao vào, thế trận lập tức đảo chiều. Người ta kể ông đánh một trận như Lục Vân Tiên phá Phong Lai, tả xung hữu đột khiến bọn cướp hoảng loạn, bỏ chạy tán loạn. Dân làng thì… đi xem là chính, xem ông Bình Thành ra đòn, xem bọn cướp tháo chạy, xem cả cụ Tuần được cứu giữa đồng. Bọn cướp buộc phải trả lại một phần đồ đạc, trả cả cụ Tuần, nhưng bắt theo đứa cháu nội Trần Văn Sán (tên khác là Gioản), mới chín tuổi. Hơn một năm và năm lần đàm phán sau, gia đình mới chuộc được cậu về, hao tổn thêm không ít tiền của.

***

Vụ cướp chấn động ấy, tưởng thế là hết. Nhưng đúng như lẽ đời: bi kịch thì nhanh, còn di chứng mới là thứ kéo dài. Nhất là khi di chứng ấy có sự xuất hiện của cụ Tam Nguyên Nguyễn Khuyến.

Chỉ ít hôm sau, cụ Tuần nhận được một bài thơ Nôm từ chính người bạn tài tử ở Yên Đổ cách nhà không xa. Bài thơ sau này có tên“Hỏi thăm quan tuần mất cướp”:

“Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông

Nó lại lôi ông tới giữa đồng

Cướp của, bắt người, quân tệ nhỉ

Thân già, da cóc có đau không?

Bây giờ trót đã sầy da trán

Ngày trước đi đâu mất mảy lông

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông”

Chỉ tám câu, năm mươi sáu chữ, mà đâm sâu hơn cả lưỡi đòng. Mở đầu nghe tưởng thương xót, hóa ra lại là nụ cười mím môi của người rất hiểu chuyện thế sự khi ấy. “Thân già da cóc có đau không?”. Một câu vừa dí dỏm, vừa xát nhẹ đúng cái nỗi bất lực của thời loạn. Nhưng tinh túy nhất là hai câu cuối, rõ xát muốt, mà xát vẫn rất ngọt:

“Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông.”

Nghe như chọc tức nhau, mà thực ra lại chĩa thẳng vào cái điệp khúc muôn đời: gom góp cả đời, chỉ một đêm là trắng tay. Thứ còn lại đôi khi chỉ là bài học… và tiếng cười tự trào…

Cụ Tuần sau đó cũng có thơ trả lời, tếu táo trên chính nỗi đau của mình:

“Ông thăm tôi cũng giã ơn ông

Nó có lôi tôi tới giữa đồng

Cũng tưởng vui thu phòng lúc thiếu

Ai ngờ ky cóp lại như không

Chém cha thằng quỷ đen tai mắt

Chẳng nể ông già bạc tóc lông

Ông hỏi thăm tôi, tôi có biết

Thương ông tuổi tác cháu thì ngông”.

***

Nhưng vụ cướp ấy không chỉ để lại thơ. Nó còn để lại… một cái kết có hậu rất đẹp cho dân tộc.

Người cháu bị bắt năm xưa, Trần Văn Sán, sau khi chuộc về, được ông nội thương yêu vô cùng. Cậu được học hành Hán văn đến nơi đến chốn, theo ông như hình với bóng, rồi dần bộc lộ năng khiếu kinh doanh hiếm có. Trưởng thành, cụ Sán trở thành một trong những nhà điền chủ có tầm: sở hữu điền trang rộng đến 515 mẫu ở Thanh Hóa, hai chục căn nhà gạch cho thuê tại Nam Định, còn được trao “Minh nông Bội tinh”.

Nhà họ Trần sau đó đi theo cách mạng. Điền trang Thanh Hóa của họ từng là trụ sở Ủy ban Kháng chiến Trung Bộ, nơi trú ngụ của không ít văn nghệ sĩ cách mạng. Mảnh đất ấy cũng từng cứu không biết bao nhiêu sinh mạng trong nạn đói 1945. Bởi vậy, khi cụ Sán qua đời, sư tăng, dân làng, cán bộ kháng chiến kéo đến viếng đông nghịt. Một đứa trẻ từng bị toán cướp đem làm lá chắn sống, cuối đời lại trở thành người góp phần nuôi lớn cả một chặng đường lịch sử của dân tộc.

***

Vụ cướp năm ấy, nếu chỉ nhìn bằng con mắt sự kiện, thì đau còn hơn trăm lần hoạn! Nhưng nhìn bằng con mắt thời gian, bằng cách kể hài hước của Nguyễn Khuyến, bằng cái hậu về sau, ta thấy đây không chỉ là giai thoại cười chơi. Nó là một lát cắt của đời sống Việt cuối thế kỷ XIX: hỗn loạn tận cùng trong cái tranh tối tranh sáng thời thuộc địa – nửa phong kiến, mà lòng người vẫn nhân hậu, khắc nghiệt mà lấp lánh nét duyên, thậm chí tếu táo cả những lúc bĩ cực nhất.

Cướp rồi sẽ phải trốn chạy. Của mất rồi có thể kiếm lại. Nhưng thơ của Nguyễn Khuyến mà đã “điểm danh” ai, thì người ấy nổi tiếng mãi. Có lẽ chính cụ Tuần Trần Văn Ước cũng không ngờ rằng, chuyện mình bị cướp một đêm đông mưa gió sẽ được người đời kể lại suốt hơn trăm năm bằng một giọng cười vừa hóm hỉnh vừa nhân văn.

Bởi vậy, vụ cướp ấy không chỉ vào thơ. Nó vào luôn lịch sử theo đúng nghĩa nhẹ nhàng và tử tế nhất mà văn chương Việt Nam có thể mang lại.

Ngô Tiến Vinh