“Chúng ta không chọn được nơi xuất phát, nhưng chọn được hướng đi tiếp theo”

– Stephen Chbosky –

Có những con người, ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, số phận đã đặt lên vai họ một gánh nặng tủi lòng. Nhưng chính họ, bằng nghị lực, lòng tự trọng và sự tinh tế bẩm sinh với đời sống, đã biến những bi kịch tuổi thơ thành chất liệu quý giá, thành ánh sáng dẫn bước họ tới một đời văn hóa – nghệ thuật bất hủ. Kim Lân là một người như thế.

***

Ông tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1/8/1920 tại thôn Phù Lưu, vùng đất Kinh Bắc nổi tiếng với nếp sống cổ kính và chợ Giầu nhộn nhịp, nơi người ta giàu cả tiếng hát, nét vẽ, lẫn nỗi nhọc nhằn lam lũ. Nhưng với cậu bé Tài, Phù Lưu không phải là miền quê bình yên. Đó là nơi một đứa trẻ mang thân phận con vợ lẽ lớn lên giữa những ánh mắt soi mói, những lời gọi không trọn nghĩa và những bữa cơm chan tủi hờn.

Chính ông từng kể: ông sống trong một gia đình mà mẹ là vợ ba, lại là dân ngụ cư từ Kiến An, Hải Phòng trôi dạt về vùng Kinh Bắc làm thợ cấy. Phận ngụ cư đã khổ, phận vợ lẽ, mà còn là vợ ba, còn tủi hơn. Mẹ ông bị gia đình nhà chồng coi thường đến mức! Mẹ phải hầu hạ như một vú em trong nhà. Không ai xem mẹ là vợ của bố cả! Những đứa con của hai bà lớn không gọi bà là mẹ, mà gọi bằng “chị Tam”. Cậu bé Tài lớn lên trong nhầm tưởng rằng “Tam” là tên mẹ. Mãi sau Cách mạng Tháng Tám, đi làm giấy tờ tùy thân, ông mới biết mẹ mình tên là Náng, ông ngoại tên Nếnh. Mẹ ông có người em gái tên Mủng. Cái tên nghèo đến mức nghe thôi đã thấy cả đời trôi dạt của nghề đi cấy thuê khi đều là tên các dụng cụ nghề nông. Về sau, dì Mủng trở thành nguyên mẫu dì Hân trong truyện “Người chú dượng”. Ngay đến cả em gái ông trước đây cũng phải hầu hạ các anh chị con bà Cả.

“Nếnh, Náng, Mủng – chỉ cái tên thôi cũng thấy cái thân phận thấp hèn, trôi nổi của dân ngụ cư lúc đó” – Ông bồi hồi kể lại.

Cả năm người, ông, mẹ, dì, các con cháu, đều là những phận người bị đặt ra lề xã hội, sống âm thầm dưới bóng những tiếng quát tháo và sai khiến. Nỗi đau ấy không bao giờ phai trong cậu bé Tài. Nó thấm dần, thành động lực… cũng là gánh nặng….

***

Vì nhà nghèo, cậu Tài chỉ được học đến lớp nhất rồi nghỉ, bắt đầu lang thang theo những người thợ để học nghề sơn guốc, khắc tranh bình phong, làm thuê làm mướn, miễn sao đỡ đần được cho mẹ. Cuộc sống ấy vừa vật vã, vừa đầy nỗi buồn âm ỉ. Có những ngày, cậu chỉ có bữa cơm độn, có khi phải nhịn đói, có lúc chỉ còn biết ngồi nhìn người ta buôn bán ở chợ Giầu mà chạnh lòng.

Trong cái nghèo và tủi thân ấy, Kim Lân hình thành một thứ tự ái rất đẹp: tự trọng của người nghèo, không muốn bị chê bai, không muốn mãi sống trong cái bóng của thân phận “đứa con người vợ lẽ”. Ông từng nói:

“Là con một người vợ lẽ, nhà nghèo, tôi làm thợ sơn guốc, ít học, đang học dở dang thì bỏ. Tôi thấy bạn bè tài năng không hơn gì mình, nhưng là con nhà giàu, có điều kiện học hành tử tế, làm chuyện này chuyện nọ, cuộc sống khá tử tế. Còn tôi nếu cứ mãi làm anh thợ sơn guốc ở làng thì khổ thật, chết thật, tủi cho thân phận mình quá. Tôi đâm tự ái. Tôi muốn phải làm cái gì đó được như họ, hay hơn họ, nên tôi thử bắt tay ngồi viết”

Có lẽ chính cái tự ái ấy đã cứu cuộc đời ông. Và cũng nhờ tự ái ấy, văn chương Việt Nam có một Kim Lân.

***

Giữa những năm 1940, khi phần lớn thanh niên nông thôn còn lo miếng cơm manh áo, chàng trai Nguyễn Văn Tài âm thầm viết những dòng đầu đời văn. Không bàn viết, không sách vở, không thầy hướng dẫn, nhưng có cả một tuổi thơ chất đầy bi kịch, thứ khi đặt lên trang giấy, tự nó đã thành văn học.

Những truyện ngắn đầu tiên như “Đứa con người vợ lẽ”, “Đứa con người cô đầu”, “Người kép già”, “Chó săn”, “Con mã mái”… xuất hiện trên Tiểu thuyết thứ bảy Trung Bắc chủ nhật, ngay lập tức gây chú ý. Người đọc nhận ra giọng văn lạ: không hoa mỹ, không kiểu cách, mà chân thật đến nhói lòng.

Còn gia đình ông thì… nổi giận lôi đình! Ông kể rằng khi “Đứa con người vợ lẽ” ra đời, người anh cùng cha khác mẹ (con bà Cả) đã hạch sách, chất vấn ông mãi. Truyện đụng đến nỗi thật. Truyện nói lên những thứ người ta muốn che. Truyện bóc tấm rèm phủ lên thân phận của chính mẹ con ông. Nhưng Kim Lân viết, vì ông không chịu sống mãi trong im lặng.

Tình thương dành cho mẹ lớn đến mức xót xa. Bà Náng, người phụ nữ nhỏ bé chịu đủ mọi tủi nhục, đã trở thành hình tượng bất tử trong văn chương ông. Bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” chính là hóa thân của mẹ ông: một người mẹ nghèo, bị chế độ thực dân – phát xít chèn ép đến cùng cực trong những ngày đói khát nhất của dân tộc, nhưng vẫn giữ lòng nhân hậu, sự bao dung và ấm áp trước mảnh đời cô vợ nhặt của cậu quý tử Tràng còn tàn nát hơn mình.

Tất cả những điều ấy, nỗi nhục, nỗi nghèo, nỗi thương mẹ, đã trở thành mạch ngầm nuôi dưỡng Kim Lân cả đời. Văn chương ông viết về máu thịt, về những số phận quanh mình, những người dân quê bị lãng quên, những phận người bị chèn ép, nhưng vẫn sống đẹp nhất có thể.

**

Tuổi thơ tăm tối ấy không làm Kim Lân bi quan. Trái lại, nó khiến ông nhìn đời sâu hơn, thương người hơn. Cũng vì vậy mà ông trở thành người “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Ông viết ít, nhưng viết thấm. Ông đóng phim cũng ít, nhưng vai nào cũng hóa kinh điển. Mỗi truyện, mỗi vai diễn là một đoản khúc đầy nhân tình, đầy khí vị đồng quê, đầy chất người mà không phải ai cũng thấy để ghi lại.

Bút danh Kim Lân cũng là lựa chọn tinh tế, lấy từ niềm say mê tuồng và nhân vật Đổng Kim Lân trong vở Sơn Hậu. Một lựa chọn đẹp, đầy văn hóa dân gian, như chính cuộc đời ông: mộc mạc nhưng sâu sắc.

Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, mẹ con ông đổi đời. Em gái ông đi theo cách mạng, sau có chồng là Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cũ. Kim Lân hiểu rằng đời người có thể đổi thay, rằng phận người dưới đáy xã hội vẫn có thể vươn lên. Và ông, với tất cả vốn sống từ tuổi thơ bi kịch, đã dồn tất cả vào văn chương để nâng những phận người ấy lên bằng chữ nghĩa của mình.

**

Nhìn lại Kim Lân, ta thấy rõ một chân lý giản dị:

Tuổi thơ bi kịch không thể làm gãy một tài năng.

Nếu trái tim đủ lớn, nỗi đau sẽ hóa thành ánh sáng.

Kim Lân đã chứng minh điều đó: bằng chính cuộc đời, bằng những trang văn còn mãi, và bằng tình thương dành cho những phận người bé nhỏ.

Một tình thương bắt nguồn từ chính tuổi thơ đầy nước mắt của mình.

Ngô Tiến Vinh