“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được…
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích…”
Chỉ với vài dòng thơ ấy thôi, một bầu trời tuổi thơ đã ập về như gió đồng buổi sớm trong mỗi độc giả. “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam từ lâu không chỉ là một bài thơ, mà đã trở thành một phần ký ức tập thể của nhiều thế hệ. Ở đó, có “đuổi bướm cầu ao”, có nỗi sợ mẹ phạt, có “cô bé nhà bên” đã làm xao xuyến tấm lòng của một chàng trai lớn lên giữa những ngày đất nước hừng hực khí thế giành độc lập trước thực dân – đế quốc.
Nhưng đằng sau vẻ trong trẻo ấy là một chuyện tình thấm đẫm nước mắt. Một chuyện tình mà chỉ cần lệch đi một nhịp thôi, “cô bé nhà bên” đã là nấm mộ lặng lẽ nơi nhà tù Phú Lợi …
Có mấy ai biết “Quê hương” ban đầu là một bài thơ viết giữa bóng tối sâu nhất đời một người đàn ông khi hay tin vợ và con gái duy nhất đã bị địch giết hại?
***
Nguyên mẫu “cô bé nhà bên” trong thơ là phu nhân, bà Phan Thị Triều. Bà sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà lớn lên đều lần lượt tham gia kháng chiến. Chưa đầy mười tuổi, như bà Triều đã theo chị gái hoạt động tích cực ở căn cứ Đồng Bò. Gia đình cho người nhắn gọi cũng không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, bà được điều lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy.
Còn Giang Nam lớn lên từ huyện Ninh Hoà, Khánh Hòa. Khi đó, ông bỏ dở trường Quốc học Quy Nhơn để trở về xã hoạt động cách mạng. Xã Vạn Thắng của ông ngày ấy trong tình trạng “ngày địch đêm ta”. Ba anh trai đã lên cứ, cha ông từng nghẹn lời:
“chúng bay đi đi, nhưng để lại cho tau một thằng lo hương khói tổ tiên”.
Và cậu con trai út, em của Giang Nam được giao trách nhiệm đó. Nhưng khi tình hình nguy cấp, cha ông đành gạt nước mắt đồng ý để đứa con trai cuối cùng vào cứ với các anh.
Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng nên Giang Nam và bà Triều quen biết nhau, tuy “tình trong như đã” nhưng chẳng ai dám ngỏ lời. Nhưng thời đó, yêu đương trong tổ chức là cấm kỵ.
Phải đến khi ông có tên trong đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến vừa thành lập, sắp lên đường ra Bình Định tập trung để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Geneva giữa ta và Pháp (1954), tổ chức mới gợi ý để ông bà làm đám cưới. Cưới gọn, cưới vội, chỉ được ở với nhau hai đêm rồi chia nhau hai phương trời. Ông lên đường ra vùng tự do. Bà từ căn cứ trở về Nha Trang hoạt động.
Hai năm tái ngộ tưởng như gần kề. Không ai biết cơn bão lịch sử đang chuẩn bị vùi dập!
***
Hiệp định bị phá. Mỹ – Diệm siết gọng kìm. Miền Nam bước vào giai đoạn “tố cộng”, “diệt cộng” ngột ngạt nhất. Thấy tình hình cấp bách, ông được tổ chức đưa về lại Nha Trang. Sau đó, tiếp tục lên đường vào Sài Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động.
Dù sống ngay trên thành phố quê hương mình, nhưng ông bà vẫn hoạt động ở 2 tuyến khác nhau. Cả hai không được gặp mặt, luôn phải cảnh giác, giữ bí mật. Bởi ngoài lính tráng, mật vụ nhan nhản thì còn mối lo bị người quen bắt gặp sẽ lộ. Chỉ cần một ánh mắt quen cũng có thể giết chết cả hệ thống!
Giang Nam miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới”. Ông hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang dưới vỏ bọc một công nhân xưởng cưa. Ông đều đặn viết bài tuyên truyền cho cách mạng, định hướng lý tưởng cho thanh niên…
Khi Mỹ – bù nhìn Sài Gòn tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” ngày một căng thẳng, cán bộ đảng ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà (Đồng Nai cũ). Đây cũng là lần đầu tiên sau 4 năm cưới nhau, ông bà mới có thể ở bên nhau.
Hai vợ chồng thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo, ông làm công cho một tư sản thầu khoán, bà buôn bán lặt vặt, nắm bắt tình hình chờ lệnh của trên. Nhiệm vụ lúc này là dựa vào quần chúng để tồn tại hợp pháp, không để bị bắt. Đó cũng là thời gian bà sinh cô con gái đầu tiên và cũng là duy nhất của ông bà.
Một thời gian sau, tình hình lắng xuống, tổ chức quyết định rút ông về Khánh Hoà. Bà ở lại một mình nuôi con. Con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà phải lấy chiếc áo của ông để đắp cho con đỡ khóc theo lời khuyên của bà chủ cho thuê nhà tốt bụng.
***
Rồi thì bi kịch ập đến!
Một buổi tối năm 1960, Giang Nam được cấp trên gọi và thông báo tin vợ và con gái ông bị địch bắt và giết hại trong nhà tù Phú Lợi, Sài Gòn. Bất lực, đau đớn vì không thể làm gì được, ngay đêm ấy, trong căn cứ bí mật dưới chân núi Hòn Du, phía tây thành phố Nha Trang, ông trút hết nỗi niềm vào những câu thơ:
“ Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi…
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi”.
“Quê hương” đã ra đời theo một cách không thể đau đớn hơn như thế!
Nó ra đời từ một mất mát tưởng như tuyệt đối.
Mỗi con chữ là một giọt máu.
Nếu đời không rẽ ngang… có lẽ đó đã là lời vĩnh biệt!
***
Nhưng ông trời có lẽ như cũng không muốn mọi chuyện trở nên tàn nhẫn như thế!
Vì thực ra, thông tin đã có sự nhầm lẫn!
Số là vào một đêm năm 1959, địch ập vào bắt mẹ con bà Triều giải đi, dù lúc đó đứa con gái đầu còn đỏ hỏn. Tuy nhiên, do không tìm ra căn cứ kết tội, ba năm sau, hai mẹ con được thả về. Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt. Một người đàn ông vừa làm xong đám tang trong tâm tưởng… nay được trả lại cả vợ lẫn con.
Thế nhưng ngay sau đó, có điện của Khu ủy khu 6 gửi Tỉnh ủy Khánh Hoà điều ông lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Ông bà vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay để Giang Nam về cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Đức cũ (nay thuộc vùng giáp ranh Đắk Lắk – Lâm Đồng mới). Về Khu chưa được bao lâu, ông được cử đi học Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh, sau đó được giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng với chức danh Phó Tổng Thư ký Hội. Một lần nữa, ông lại phải chia ly.
Và một lần nữa, lằn ranh sinh – tử lại gọi tên vợ con ông. Năm 1968, bà Triều lại bị bắt lần hai, vẫn cùng với cô con gái nhỏ, do sơ suất của người giao liên nên bị lộ. Lần bắt này tàn khốc hơn, vì đối phương biết bà liên quan trực tiếp đến cơ sở nội thành Nha Trang. Nhưng điều kỳ diệu, hai mẹ con vẫn vượt qua được những tháng ngày lao tù khốc liệt nhất. Đến năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, bà mới được phía bên kia trao trả.
Sau bao năm ly biệt, cuối cùng hai người mới thực sự có thể đoàn tụ với nhau trong bình yên. Cô bé ngày nào gặp lại cha đã trở thành thiếu nữ mười lăm tuổi. Người mẹ thì đã trải qua hai lần tù đày. Người cha thì đã sống mười mấy năm trên trục chạy của cách mạng, văn nghệ và chiến trường.
Hai con người, hai cuộc đời… mà tình nghĩa vẫn như sợi chỉ đỏ không đứt nổi.
***
Đất nước thống nhất. Hòa bình lập lại. Nhưng nhiệm vụ tái thiết đất nước sau thống nhất vẫn chưa thể cho họ sớm sum vầy. Nhà thơ Giang Nam lại được điều ra Hà Nội làm Tổng biên tập Báo Văn nghệ vào năm 1978. Mãi đến khi ông được điều trở lại Khánh Hòa công tác thì gia đình nhỏ mới thật sự đoàn tụ sau gần ba thập kỷ gió giật mưa dồn.
Và như thể là một phần thưởng để an ủi, cuộc đời đã cho ông bà chữ “Thọ” để được ở bên nhau hưởng những năm tháng cuối đời an lạc. Tháng 4/2013, cuối cùng thì bà Phan Thị Triều phải rời xa ông ở tuổi 82 để về với tổ tiên. 10h31 phút ngày 23/1/2023, nhà thơ Giang Nam cũng đã gặp bà, thọ 94 tuổi. Cả hai rời cõi tạm bình thản như một chiếc lá rụng đúng mùa.
***
Có lẽ ít bài thơ Việt Nam nào tồn tại một nghịch lý kịch tính đến vậy:
“Quê hương” không chỉ là tuổi thơ, không chỉ là tiếng cười khúc khích của “cô bé nhà bên”. Nó còn là một cuộc tình tưởng như vĩnh biệt, một bi kịch của chiến tranh và chia cắt. Nhưng đoạn kết không có trong bài lại là một sự hồi sinh kỳ diệu của những nhầm lầm. Và cuối cùng là sự thủy chung son sắt hiếm có.
Và sự nhầm lẫn ấy đã để lại cho những thế hệ yêu văn học Việt một bài thơ cảm động, một mối tình son sắt, đồng hành cùng sức sống của bài thơ cho đến nay.
Sau tất cả, “Quê hương” để lại cho đời một thiên tình sử thời chiến không thể đẹp hơn…
Ngô Tiến Vinh





