Nếu Tết của Nguyễn Khuyến là cái Tết soi vào đạo lý làng xã, cười mà cay, cười để ngẫm, thì Tết của Nguyễn Công Trứ lại là cái Tết… cười cho đã rồi hãy tính sau! Cười giữa nợ nần, cười giữa tay trắng, cười ngay khi thiên hạ còn đang ngồi thở dài trước thềm năm mới. Một kiểu cười ngông, cười ngạo đời, nhưng không hề cạn cợt; trái lại, đó là thứ tiếng cười của một con người tin chắc rằng: nghèo thì có thể chịu, nhưng khí xuân thì nhất định không được phép mất!
***
Theo lời kể của ông Nguyễn Công Tuấn, cháu đời thứ sáu của cụ Thượng Trứ, vào những năm “tam thập nhi lập”, Nguyễn Công Trứ vẫn là một “bạch diện thư sinh” đúng nghĩa: chưa công danh, chưa chức tước, gia cảnh nghèo túng, nợ nần đã đến hạn mà chưa biết xoay xở nơi đâu. Ấy vậy mà, lạ thay, Tết đến là ông vẫn ăn Tết. Không bi lụy, không kêu than, càng không đóng cửa ngồi than thân trách phận.
Thêm một cái Tết nữa lại gõ cửa. Tiền thì không có, nợ thì vẫn còn nguyên đó, nhưng ông Trứ vẫn bảo vợ, bà Đặng Thị Minh, ra chợ Giang Đình sắm sửa lấy lệ vài món cho có không khí. Phần mình, ông quét dọn nhà cửa, lau lại bàn thờ tổ tiên, rồi ra vườn chặt một cành đào phai phơn phớt hồng, cắm vào chiếc bình gốm cũ đặt trang trọng trước bàn thờ gia tiên. Chỉ cần thế thôi là đủ có Tết! Xong xuôi, ông trải giấy đỏ ra, mài mực, cầm bút viết câu đối, cái dáng điệu bình thản như thể trong nhà đang dư dả lắm.
Đôi câu đối Nôm đầu tiên được viết chữ to đùng, dán ngay ngắn trước cửa nhà:
“Bầu một cái lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái;
Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn”
Nhà thì trống thật. Nhưng chữ nghĩa thì không trống. Chữ đầy ắp khí xuân, đầy ắp niềm tin, và đặc biệt là… đầy ngông. Ngông ở chỗ nghèo rành rành mà vẫn nói chuyện “ngũ phúc lâm môn”; ngông ở chỗ tay trắng mà vẫn dám tin xuân mới sẽ mở vận.
Chưa hết, Nguyễn Công Trứ lại viết thêm một đôi câu đối chữ Hán, chỉnh tề và trang trọng không kém:
“Tuế phùng Xuân, tân cảnh, tân thiều, tân vũ lộ;
Thời hành Hạ, cựu bang, cựu điển, cựu xa thư.”
Nghĩa là:
“Năm vừa gặp mùa Xuân, cảnh sắc mới, thiều quang mới, mưa móc mới;
Thời vẫn theo nhà Hạ, nước non xưa, điển chế xưa, sách vở xưa.”
Xuân đến, nhưng cái cốt lõi không đổi. Một cách nói rất Nguyễn Công Trứ: đổi đời thì chưa chắc, nhưng đổi khí thế thì nhất định phải đổi trước đã.
Dán xong câu đối, ông mang đàn ra gảy cho vui cửa vui nhà. Hàng xóm nghe tiếng đàn, tò mò ghé vào chơi, tiện hỏi thăm xem Tết nhất chuẩn bị đến đâu rồi. Nguyễn Công Trứ rót rượu mời, chỉ quanh bếp trống trơn, rồi cười hề hề đọc như phân bua:
“Tết có cóc gì đâu, uống vài be củ tỏi;
Nợ còn ương ra đó, nói ba chuyện cà riềng!”
Nghe xong, ai cũng phải bật cười. Nợ thì vẫn còn đó, nhưng tinh thần thì nhất quyết không chịu nghèo theo hoàn cảnh.
Sáng mồng Một Tết, làm lễ Nguyên Đán xong, ông Trứ lại cùng bạn bè nâng chén. Giữa hơi men lưng lửng, ông tức cảnh làm thêm đôi câu đối mới:
“Chiều ba mươi công nợ rối Nhâm Thìn, những muốn mười năm dồn lại một;
Sáng mồng một rượu chè tràn Quý Tị, trông cho ba bữa hóa ra mười.”
Mọi người tấm tắc khen hay, nhưng cũng có kẻ thở dài:
– Mơ vậy thôi chứ biết bao giờ mới thoát nghèo? Làm câu nào cho khí thế hơn đi ông Trứ ơi!
Nghe thế, Nguyễn Công Trứ chẳng cãi, chỉ lẳng lặng lấy thêm tờ giấy đỏ, phóng bút viết ngay:
“Chiều ba mươi công nợ tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa;
Sáng mồng một rượu chè túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà!”
Ngông đến thế là cùng! Nhưng đạp “thằng Bần” ra cửa đâu phải chỉ bằng câu chữ. Hết Tết, hết mấy ngày “xả láng” với be củ tỏi và chuyện cà riềng, Nguyễn Công Trứ lại trở về với đời thực: đi dạy học kiếm tiền, sôi kinh nấu sử, nuôi chí tang bồng. Ngông, nhưng không rỗng. Cái ngông ấy chỉ là vỏ bọc của một chí khí lớn, của một con người không chịu để số phận nghèo hèn định nghĩa mình.
***
Với Nguyễn Công Trứ, Tết không cần mâm cao cỗ đầy. Chỉ cần một tiếng pháo nổ, một cây nêu dựng trước nhà là đủ gọi Xuân về:
“Đuột trời ngất một cây nêu, tối ba mươi ri là Tết;
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa cũng Xuân.”
Ngay cả người mù, ông cũng nghĩ tới. Không tả cảnh, không vẽ màu, chỉ nói bằng âm thanh và cảm giác:
“Tối ba mươi nghe pháo Giao thừa, ờ ờ Tết;
Rạng mồng một vấp nêu Nguyên đán, à à Xuân.”
Một cái Tết nghe bằng tai, chạm bằng bước chân, rất đời, rất người.
Cả cuộc đời Nguyễn Công Trứ thăng trầm không ít: từ lính thú đến Thượng thư, rồi lại bị giáng chức, có lúc phải đi chăn bò, cắt cỏ. Nhưng với ông, thăng hay giáng chỉ là chuyện ngoài da. Làm quan không vinh, làm lính không nhục. Điều quan trọng nhất là giữ được chính mình, giữ được tinh thần nhập thế giúp dân.
Bởi thế, dù ở đâu, dù trong cảnh nào, Nguyễn Công Trứ vẫn có Tết. Một cái Tết ngông nghênh, lạc quan, cười to giữa nợ nần, hát lớn giữa gian truân.
Với cố Lớn, hễ có việc gì dính dáng đến Tết là có thể thành câu đối. Từ chuyện nghèo khó, nợ nần, đến những việc rất vụn vặt như đắp bục thắp hương, dựng cây nêu, mua pháo, đốt pháo, tất cả đều đi vào câu chữ:
“Đắp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng;
Khơi dòng nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.”
Đến cả chuyện đi đứng vụng về, vấp phải cây nêu cũng trở thành cảm hứng:
“Tối ba mươi giơ cẳng đụng cây nêu… ủa: Tết,
Sáng mồng một lắng tai nghe lời chúc…: Xuân”
Tính cách phóng khoáng, yêu vui chơi, mê đàn hát của Nguyễn Công Trứ còn thể hiện rõ trong những câu đối nói về pháo Tết:
“Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng,
Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu.”
Dù gia cảnh hàn nho, ông vẫn mong niềm vui mỗi khi Tết đến, Xuân về. Cái ước bình dị mà lớn lao: được sống thật nhiều cái Tết, cả năm đều là mùa xuân, được ông gửi gắm vào câu đối:
“Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày được trăm cái Tết,
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân.”
***
Ước muốn ấy, lạc quan, tràn trề sinh lực, không chỉ là của riêng Nguyễn Công Trứ, mà cũng là mong ước muôn đời của người Việt. Và có lẽ, chính nhờ cái ngông ấy, cái cười ấy, mà mỗi độ xuân về, hình ảnh ông già Nguyễn Công Trứ mài mực, viết câu đối Tết vẫn còn sống động trong ký ức của bà con Hà Tĩnh nói riêng và văn hóa Việt, như một lời nhắc nhở giản dị mà sâu xa: nghèo không đáng sợ, mất khí xuân mới là điều đáng sợ nhất!
Ngô Tiến Vinh





