Đầu thế kỷ XX, Sài Gòn nói riêng và Nam Kỳ nói chung giống như một đứa trẻ đang dậy thì trong một gia đình phong kiến, nhưng lại bị cưỡng ép phải mặc bộ âu phục chật chội. Ngoài đường, xe hơi của mấy ông Tây chủ xưởng chạy tạt nước vào mấy chiếc xe thổ mộ chạy bằng sức ngựa của dân mình. Trong nhà, mấy ông đồ già vẫn rung đùi đọc kinh sử, còn ngoài ngõ thanh niên đã bắt đầu bàn về “tự do”, “dân quyền” bằng chữ Quốc ngữ mới mẻ. Cái buổi giao thời ấy nó vừa nhộn nhịp, vừa đau đớn vô cùng. Chính trong cái khung cảnh “dở dơi dở chuột” đó, một người đàn bà đứng ra, tay không bắt lấy một chiếc chuông đánh lên những tiếng kêu cứu cho phận nữ nhi. Người đó là Sương Nguyệt Anh.

​Muốn hiểu tại sao bà Sương Nguyệt Anh (tên thật là Nguyễn Thị Khuê) lại có cái chí sắt đá đến vậy, phải ngược dòng về mảnh đất Ba Tri, Bến Tre. Bà là con gái thứ tư của cụ Đồ Chiểu, người mà cả đời dùng cây bút làm vũ khí, thà mù mắt chứ không sống dưới gầm giày viễn chinh. Ngay từ nhỏ, bà Khuê đã thấm cái chất “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” của cha. Lịch sử kể rằng, bà vừa đẹp người lại nức tiếng thông minh. Bà lấy chồng, một phó tổng ở Mỹ Tho. Hạnh phúc chưa kịp bén rễ thì chồng mất, để lại đứa con thơ. Bà ở vậy thờ chồng, lấy tên hiệu là Sương Nguyệt Anh (tức là “Góa phụ Nguyệt Anh”). Một người đàn bà, góa chồng, con nhỏ. Nếu là người khác, có lẽ họ đã chọn cách sống mòn qua ngày. Nhưng bà lại chọn Sài Gòn và báo chí.

Những năm 1906-1908, hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, bà bán một phần điền sản và vận động quyên góp để giúp học sinh sang Nhật du học. Phong trào sau đó bị đàn áp và thất bại nhưng bà vẫn không nản lòng.

​Ngày mùng 1 Tết Mậu Ngọ (1/2/1918), tờ Nữ Giới Chung (Tiếng chuông của nữ giới) ra số đầu tiên. Trụ sở đặt tại số 15 đường Taberd (nay là đường Nguyễn Du, Quận 1). Giữa một tòa soạn đầy mùi mực in, mùi thuốc lá của các ký giả nam giới, lại có một người đàn bà Sương Nguyệt Anh là chủ bút.

Lúc đó, phụ nữ Việt Nam vẫn còn bị kẹt trong cái kén “Tam tòng”. Ở nhà nghe cha, lấy chồng nghe chồng, chồng chết nghe con. Họ không có quyền tài sản, không có quyền học hành, thậm chí không có quyền có ý kiến về chính cuộc đời mình. Bà Sương Nguyệt Anh nhìn thấy cái xiềng xích đó không phải là do số phận, mà là do sự thiếu hụt về tri thức. Bà muốn dùng cái chuông này để đánh thức những người chị em đang ngủ mê trong buồng kín.

​Cái khôn ngoan của Sương Nguyệt Anh nằm ở chỗ bà hiểu rất rõ tâm lý của đàn ông Việt Nam lúc bấy giờ, những người vẫn còn coi “nữ nhi ngoại tộc”. Nếu bà đòi phụ nữ phải mặc váy ngắn, nhảy đầm hay bỏ chồng ngay lập tức, tờ báo sẽ bị dẹp tiệm trong vòng một nốt nhạc bởi sự kỳ thị của xã hội và sự kiểm duyệt của thực dân. Bà chọn cách “mượn xác hoàn hồn”. Trên báo, bà vẫn đề cập đến Tam tòng, Tứ đức, nhưng bà định nghĩa lại chúng theo một lối rất “đời” và rất “nghề”.

​Chữ Công: Với bà, phải là có cái nghề để nuôi thân. Bà hô hào phụ nữ học chữ Quốc ngữ, học buôn bán, học kỹ nghệ.

​Chữ Dung: là cái thần thái của người phụ nữ có học thức, biết đối nhân xử thế.

​Chữ Ngôn: là phải biết dùng lý lẽ để bảo vệ mình, để dạy dỗ con cái nên người chứ không phải làm nô lệ cho chồng.

​Bà viết: “Chị em ơi!… Muốn có cái địa vị ngang hàng với nam giới thì (chẳng những) việc tề gia nội trợ phải thuộc lòng, tình thế trong ngoài cũng nên ghé mắt, tuy chưa được như người Âu Mỹ song cũng đừng phụ tiếng Lạc Hồng”. Câu nói này, đặt trong bối cảnh năm 1918, thực sự là một cú tát vào chế độ và tư tưởng lúc bấy giờ.

​Làm chủ bút một tờ báo nữ giới đầu tiên, Sương Nguyệt Anh phải đối mặt với những luồng dư luận nghiệt ngã. Những kẻ bảo thủ thì mỉa mai bà là “đàn bà mà đòi dạy đời”, là “xúi giục phụ nữ làm loạn nếp nhà”. Thậm chí, có những bài báo công kích cá nhân bà một cách tàn nhẫn. Nhưng áp lực kinh khủng nhất lại đến từ phía chính quyền thực dân. Pháp cho phép ra báo tiếng Việt nhưng lại kiểm soát cực kỳ gắt gao về nội dung “nhạy cảm”. Sương Nguyệt Anh đã động chạm chính quyền lúc bấy giờ khi lồng ghép khéo léo lòng yêu nước vào những bài thơ, bài vè. Bà nói về “hồn nước”, về “giống nòi”, về việc phụ nữ phải là hậu phương vững chắc và là người nuôi dưỡng ý chí cho thế hệ mai sau. Cũng trên tờ “Nữ giới chung” này, còn có những bài thơ đề cao tinh thần quật khởi của các nữ anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu. Ngoài ra, báo cũng đăng những bài thơ khuyên thanh niên Việt Nam không nên đi lính cho Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918. Nó dường như hưởng ứng lời kêu gọi của Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Duy Tân.

Mỗi số báo phát hành là một cuộc đấu trí. Bà phải cân bằng giữa việc làm hài lòng nhà cầm quyền để báo không bị đóng cửa, với việc giữ đúng cái tâm thế “con gái cụ Đồ Chiểu”. Có những đêm, bà thức trắng để suy nghĩ về một câu thơ, một dòng tít sao cho vừa lọt tai quan trên, vừa thức tỉnh được lòng dân. Sự lao lực ấy, đối với một người khỏe mạnh đã khó, với một người phụ nữ lại càng vắt kiệt sức lực.

​Hành trình của Nữ Giới Chung chỉ kéo dài 5 tháng rưỡi, với 22 số báo. Ngày 7/7/1918, tờ báo đình bản. Có rất nhiều giả thuyết: Người nói do thiếu kinh phí, người nói do sức khỏe bà suy sụp, nhưng đa số các nhà nghiên cứu sau này đều đồng ý rằng chính quyền Pháp đã nhúng tay vào vì nhận thấy tờ báo này đang nhen nhóm một ngọn lửa ý thức hệ quá nguy hiểm.

Sau “Nữ giới chung”, bà lại được mời làm chủ bút tờ Đèn Nhà Nam (tờ báo cải biến từ Nữ giới chung) nhưng bà từ chối.

Thời gian này bà thường xuyên bị đau nhức mắt, sức khỏe cũng dần suy kiệt. Nghe lời thầy thuốc, Sương Nguyệt Anh dẫn cháu ngoại trở về Mỹ Chánh Hoà (Ba Tri), ở với người em út tên là Nguyễn Đình Chiêm để chữa bệnh. Bà rời Sài Gòn phồn hoa, mang theo nỗi đau khôn nguôi về một hoài bão chưa trọn.

Chỉ thời gian ngắn, đôi mắt bà cũng bị mù lòa hẳn. Những ngày cuối đời, bà vẫn đau đáu về vận mệnh đất nước. Năm 1921, bà trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 57.

Nhìn lại hơn một thế kỷ trước, ta mới thấy cái tầm vóc khổng lồ của người đàn bà ấy. Trong khi các đấng nam nhi còn đang mải mê với những lý thuyết viển vông, bà đã nhìn ra cốt lõi của nữ quyền là Giáo dục và Kinh tế. Di sản bà để lại không chỉ là 22 số báo cũ trong bảo tàng, mà là niềm cảm hứng cho những phong trào nữ quyền rầm rộ vào thập niên 1930 như Phụ Nữ Tân Văn.

​Nếu hôm nay, bạn thấy một người phụ nữ Việt Nam tự tin làm chủ doanh nghiệp, tự tin tranh luận trên nghị trường hay đơn giản là tự quyết định cuộc đời mình, thì xin hãy nhớ rằng, hơn 100 năm trước, đã có một người đàn bà mù ngồi trong bóng tối ở Sài Gòn để góp phần thắp lên những tia sáng đầu tiên đó. Và có lẽ tiếng chuông của Sương Nguyệt Anh không tắt, nó chỉ đang ngân vang trong một hình hài khác, ở một thời đại khác mà thôi.

Thanh Ngân