TÀI NỮ CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG XUÂN HƯƠNG
THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP
Hồ Xuân Hương (1772 – 1822) là con gái duy nhất của thầy đồ Hồ Phi Diễn (1704 – 1786) dạy học ở vùng Kinh Bắc, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An (nay là làng Quỳnh Đôi, xã Quỳnh Anh tỉnh Nghệ An) với người vợ lẽ họ Hà, quê Hải Dương (nay là Hải Phòng). Hồ Xuân Hương được người cha dạy học và sớm nổi tiếng về tài văn chương từ lúc thiếu niên.
Hồ Xuân Hương sinh tại làng Khán Xuân, ven hồ Dâm Đàm (Hồ Tây), giáp làng Ngọc Hà. Khán Xuân là một trong “Thăng Long bát cảnh” nổi tiếng ở Hồ Tây, nơi chúa Trịnh Giang cho những người trong nội triều bán hàng, đàn hát, mua vui và kéo dài đến hết cả đêm, suốt cả mùa hè. Chợ đêm Khán Xuân treo hàng ngàn chiếc đèn lồng bằng gấm do các cung nữ làm, tạo nên chốn phồn hoa với không gian lung linh, huyền ảo dành cho giới thượng lưu ăn chơi và để vua chúa ngự thuyền rồng đến thưởng lãm.
Đương thời, Hồ Xuân Hương thành lập Cổ Nguyệt đường. Tên hiệu đó là một thú chơi chữ của Hồ Xuân Hương: từ đường có nghĩa là nhà, nhà Cổ Nguyệt – trong đó, chữ cổ (古: ngày xưa), ghép với nguyệt (月: mặt trăng) thành chữ hồ (胡). Cổ Nguyệt đường là nhà của người họ Hồ (nhà của Hồ Xuân Hương) nhưng nó là một “tao đàn” – từ là đài thơ, là nơi tụ họp, là điểm đến của tao nhân mặc khách trên khắp cả nước thời bấy giờ và đã có nhiều văn nhân “giật cờ thi tướng”, đoạt giải trong những cuộc thi thơ do Hồ Xuân Hương tổ chức.
Hồ Xuân Hương nổi tiếng, được mọi người biết đến vì là người sáng lập và điều hành Cổ Nguyệt đường. Bà được các văn nhân nổi tiếng đương thời ngợi ca là một tài nữ. Tốn Phong viết trong lời tựa tập thơ Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương có đoạn: “Mùa xuân năm Đinh Mão (1807), tôi đến thành Thăng Long, nhân cùng bạn là Cư Đình nói chuyện về các tài nữ xưa nay, bạn ấy nói cho biết cùng quận với tôi, có người phụ nữ là Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương, học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ dùng phép tắc mà văn hoa, thật là một bậc tài nữ”.
Làng Khán Xuân, nơi có tao đàn Cổ Nguyệt đường và di tích Đài Khán Xuân (trong bài thơ “Chơi đài Khán Xuân” của Hồ Xuân Hương) chính là núi Khán – đài xem duyệt binh của vua Lê Thánh Tông, đã không còn khi người Pháp xây dựng một loạt công trình gồm Phủ Toàn quyền (nay là Văn phòng Chủ tịch nước), trường trung học Anbe Xarô, vườn Bách thảo…
Hồ Xuân Hương mất năm 1822. Theo các nhà nghiên cứu Hồ Bá Hiền, bà được táng tại nghĩa trang Đồng Táo, bên cạnh chùa Kim Liên thuộc làng Nghi Tàm, nay đã chìm dưới lòng Hồ Tây. Bà để lại di sản văn chương với số lượng không quá đồ sộ, là những bài thơ Nôm và thơ chữ Hán (hiện vẫn được các nhà nghiên cứu tìm kiếm, sưu tập), nhưng thơ của bà lại có phong cách độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân và có ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử văn học Việt Nam.
Hồ Xuân Hương được nhân dân tôn vinh là “Bà chúa thơ Nôm” và là một trong những nữ thi sĩ hàng đầu của châu Á, đồng thời là người đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam.
Tháng 11 năm 2021, UNESCO đã thông qua Nghị quyết 41C/15, chính thức vinh danh và tham gia kỷ niệm 250 năm ngày sinh của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772 – 2022) tại tỉnh Nghệ An. Sau sự kiện này, nhân dân đã tôn vinh bà là “Danh nhân văn hóa thế giới” để ghi nhận cống hiến và đóng góp xuất sắc của bà cho nền văn hóa và nhân loại.
CÁC TÁC PHẨM CHÍNH:
+ Thơ Nôm truyền tụng: mảng thơ được viết bằng chữ Nôm (ngôn ngữ Việt).
+ Lưu Hương Ký: gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm. Là tập hợp về tâm sự và những mối tình của mình, tập hợp xướng họa với bạn bè.
+ Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập: gồm 9 bài thơ chữ Hán, thể hiện tình yêu quê hương và tự sự.
+ Đồ Sơn bát vịnh: gồm 8 bài thơ chữ Hán, vịnh cảnh Đồ Sơn.
+ Đề Vịnh Hạ Long: gồm 5 bài thơ chữ Hán, vịnh cảnh Hạ Long.
Các tác phẩm chính làm nên tên tuổi Hồ Xuân Hương là các bài thơ Nôm được nhân dân gìn giữ, đã được các nhà nghiên cứu sưu tập và công bố gọi là “Thơ Nôm truyền tụng” mà theo PGS. TS Đào Thái Tôn sưu tập gồm 139 bài; theo GS. Nhan Bảo (Trung Quốc) sưu tập có hơn 200 bài…
GIÁ TRỊ VỀ TƯ TƯỞNG, NGHỆ THUẬT TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG:
– Hồ Xuân Hương vượt qua rào cản nặng nề hàng ngàn năm của Hán ngữ, trong bối cảnh chữ Hán vẫn chưa thể thay thế được về phương diện chữ viết và văn bản để sáng tác thơ Nôm, sáng tác bằng tiếng Việt thúc đẩy ngôn ngữ mẹ đẻ trở thành ngôn ngữ văn học chính thống.
– Hồ Xuân Hương là nhà thơ đầu tiên thúc đẩy sự phát triền nền văn học dân tộc bằng sự khẳng định cái tôi, cái bản sắc cá nhân, dấu ấn và quan niệm cá nhân trong nền văn học Việt Nam thời phong kiến vốn ở tình trạng “cá nhân, cái bản sắc của cá nhân bị chìm đắm như giọt nước trong biển cả” (Hoài Thanh). Cái tôi được thể hiện gián tiếp qua đại từ nhân xưng “tôi” như “Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi” (Ốc nhồi), trực tiếp như “Này của Xuân Hương đã quệt rồi” (Mời trầu) hay “Ví đây đổi phận làm trai được” (Miếu Sầm thái thú)…
– Thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một tư tưởng nhân văn/ nhân bản mang tính nhân loại sâu sắc với hạt nhân là đấu tranh đòi quyền sống cho con người, cho nữ quyền, ca ngợi nồng nhiệt sự sống, sự lạc quan, yêu đời.
+ Đấu tranh đòi quyền sống cho con người – con người với tư cách là những thực thể tồn tại trên mặt đất với mọi nhu cầu trần thế, nhu cầu hiện sinh chính đáng.
+ Đấu tranh đòi nữ quyền (quyền bình đẳng; quyền được công khai hiện diện trong cuộc sống với tất cả những gì mà tạo hóa ban cho; quyền được yêu thương, hạnh phúc).
+ Phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến – Nho giáo với những tệ lậu, ràng buộc con người: sự bất bình đẳng giới nam/ nữ (trai “năm thê bảy thiếp”, gái phải chịu “kiếp chồng chung”); những lề thói, hủ tục cản trở sự tiến bộ.
+ Phê phán không khoan nhượng tệ tham nhũng, giả dối, lọc lừa của mọi hạng người vô liêm sỉ trong xã hội từ quan lại, những người có quyền thế cho đến các đối tượng khác.
– Thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một quan niệm văn hóa và thẩm mỹ độc đáo chưa từng có về các nhu cầu cơ bản của con người như tính dục, đời sống bản năng, trần tục
+ Trong thơ Hồ Xuân Hương có cả một thế giới biểu tượng phong phú, đa dạng, độc đáo về thân xác và tính dục, về cái trần tục của đời sống bản thể con người (tình yêu, sự giao hoan, các bộ phận nhạy cảm / trong các bài Đánh đu, Dệt cửi, Thiếu nữ ngủ ngày, Bánh trôi nước, Quả mít, Cái quạt, v.v…).
+ Với cái nhìn thẩm mỹ độc đáo “tục mà thanh – thanh mà tục” thể hiện qua nhiều bài thơ tinh tế, giàu tính nghệ thuật, Hồ Xuân Hương đã nâng tất cả các biểu tượng về tính dục, về cái trần tục… thành văn hóa, mỹ học về cái tục, tạo bước tiến mới cho văn hóa, văn học Việt Nam, đóng góp xuất sắc cho văn hóa, văn học thế giới.
– Thơ Hồ Xuân Hương nhiều bài đạt tầm kiệt tác, là một đỉnh cao của thơ Nôm (tiếng Việt), là một hiện tượng hiếm có trong văn học thế giới
+ Hồ Xuân Hương thực sự là một phong cách lớn, giàu cá tính sáng tạo.
+ Hồ Xuân Hương sử dụng linh hoạt nhiều bút pháp nghệ thuật khác nhau, đặc biệt hai bút pháp trữ tình và trào lộng được vận dụng với trình độ bậc thầy.
+ Các thể thơ thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương được vận dụng sáng tạo, được làm mới trên cả ba phương diện: chức năng, nội dung và thi pháp thể loại.
+ Ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ đời sống, tuy giàu màu sắc bình dân nhưng hết sức đậm dấu ấn cá tính, cá nhân. Đấy là một thứ ngôn ngữ thơ giàu tính năng sản, giàu tính tạo hình và biểu cảm, giàu chất thơ, tính thơ, nhất là hệ thống từ láy: “Thơ của Hồ Xuân Hương thật là tinh quái, những câu thơ hay đọc lên đến ghê người. Người ta thường có câu “Thi trung hữu họa”, nghĩa là trong thơ có vẽ. Nhưng thơ Hồ Xuân Hương thì lại là: “Thi Trung hữu quỷ”, nghĩa là trong thơ có ma! Song mà nhận ra thời tục!” (Tản Đà)
ẢNH HƯỞNG CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG VÀO THƠ VĂN TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ:
– Thơ Hồ Xuân Hương có sức lan toả sâu rộng và tính cộng hưởng mạnh mẽ, tạo nên hiện tượng “đồng sáng tạo” hiếm có. Thơ nôm truyền tụng, không ngừng tạo nên hiện tượng parody/ nhại hết sức độc đáo. Nhiều bài thơ của bà được người đương thời và người đời sau một mặt nhại theo để tạo nên sản phẩm mới, mặt khác mượn nguyên dạng để “thay lời muốn nói” theo nhiều hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Việc parody/ nhại hay sáng tác theo mẫu thơ Hồ Xuân Hương không làm mất đi một Hồ Xuân Hương cá nhân – cá tính, mà ngược lại, càng nâng tầm nhà thơ lên vị trí là người khai sáng cho một loại hình thơ hấp dẫn, gắn với đời sống và có sức sống trường tồn với thời gian.
– Thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch ra 13 ngôn ngữ: Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ba Lan, tiếng Bungari, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Phần Lan, tiếng Rumania, tiếng Séc, tiếng Slovakia, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc.
– Xuân Hương thi tập đã sánh vai cùng các kiệt tác của thế giới từ cổ đại Ai Cập, cổ đại Trung Hoa đến Âu Mỹ hiện đại trong bộ “Từ điển các tác phẩm của mọi thời đại và của mọi xứ sở” xuất bản ở Paris năm 1962, do tập thể các chuyên gia hàng đầu thế giới tuyển chọn: “Những bài thơ của Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ và nhà thơ (cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19), thuộc một thể loại riêng. Những bài thơ này thường có chủ đề là những đồ vật nhỏ như một phương tiện để thể hiện tình cảm riêng tư của tác giả. Dưới hình thức đùa cợt, giễu nhại một cách kín đáo, là dấu ấn của những rung động tình cảm và rất nhiều yếu tố gọi mời và khêu gợi. Vào thời điểm mà tất cả các tác phẩm văn học đều tập trung vào đạo đức và bảo vệ lễ giáo, thì tác phẩm của Hồ Xuân Hương, đặc biệt là vì đó là sáng tạo của một người phụ nữ, gây kinh ngạc với tính cách tự do và vượt ra ngoài chính thống. Thơ của bà là tiếng cười tinh quái, nghịch ngợm giữa đám người nghiêm túc”.
Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ duy nhất của Việt Nam có tác phẩm được giới thiệu trong Từ điển tác phẩm của Laffont-Bompiani, và là một trong bảy tác giả Việt Nam được giới thiệu trong Từ điển tác giả.
“Hồ Xuân Hương. Nhà thơ Việt Nam (cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX). Xuất thân từ làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An. Rất có năng khiếu về thơ nhưng với bản tính tự nhiên và không tuân thủ, bà khó khăn với việc thích nghi với xã hội phân cấp và hà khắc. Bà lập gia đình muộn và không thuận lợi, đầu tiên là làm vợ lẽ của một tri phủ (tương đương chức vụ của “préfet”), sau khi người chồng chết thì tái hôn với một chánh tổng nhưng người chồng này cũng sớm qua đời. Kể từ đó, Hồ Xuân Hương rút lui khỏi thế giới và quy y trong một kiểu từ bỏ chiêm nghiệm. Khó khăn với việc chia sẻ mối quan hệ với cuộc sống, bà lại thích thú với những tác phẩm nhỏ, nhẹ nhàng, đầy cảm giác rung động và che giấu nỗi cay đắng. Tác phẩm của bà, “Xuân Hương thi tập” giữ vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam”. (Từ điển tác giả mọi thời đại và của tất cả các quốc gia, Laffont-Bompiani, SEDE, Paris 1957, quyển A-J, trang 670).
– Cuối năm 2000, tập thơ Hương Mùa Xuân của GS John Balaban dịch, (Spring Essence: The poetry of Hồ Xuân Hương – NXB Copper Canyon Press, Mỹ) tổng cộng 49 bài bằng ba thứ chữ Nôm – Việt – Anh, được xuất bản. Tập thơ Hương Mùa Xuân: Thơ Hồ Xuân Hương đã bán được trên 20.000 bản, và như tờ New York Times bình luận thì nó “trở thành một hiện tượng trong đời sống văn học Mỹ”.
– Bài diễn văn của Tổng thống Mỹ Clinton khi sang thăm Việt Nam, tại cuộc chiêu đãi trọng thể tối 17.11.2000 do Chủ tịch Nước Trần Đức Lương chủ trì đã nói: “Các bài thơ 200 năm tuổi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đang được xuất bản ở Mỹ – bằng tiếng Anh, tiếng Việt và cả chữ Nôm nguyên bản, là lần đầu tiên mà một bản thảo cổ của Việt Nam được đưa lên in ấn”.
MỘT SỐ BÌNH LUẬN VỀ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ:
+ Henri Lopes – Trợ lý Tổng giám đốc UNESCO phụ trách về Văn hóa và Đối ngoại:
Năm 1987 ông đã viết lời tựa cho cuốn sách “Anthologie des poèmes de Hồ Xuân Hương” (Tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương – Tiếng Pháp, Nguyễn Minh Thanh dịch, Paris, 1987) có đoạn:
“… Ngay trang đầu tiên, âm nhạc dẫn dắt tôi. Chúng ta thấy một người phụ nữ diễn đạt qua thơ những gì người đàn ông không biết thể hiện. Chúng ta muốn trở thành người tình của người phụ nữ đang nói với chúng ta rằng “cơ thể cô ấy không có ý định già đi”. Không cần phải xấu hổ, cô ấy thừa nhận dòng chảy tinh tế và nhạy cảm thần thánh phát sinh từ một số vùng nhạy cảm từ đùi đến cổ cô ấy. Và sức nóng này lan đến chúng ta. Một đằng là tình yêu mạnh mẽ, nhưng đằng khác còn là biết nói lên tình yều đó. Một mặt nữa, quan trọng hơn, là biết làm cách nào để được yêu. Một thế kỉ có quá nhiều thứ để khám phá, rất nhiều thứ để xem, rất nhiều thứ để nếm trải về tình dục và thế kỉ đó bị mê hoặc bởi sự gợi tình.
Tuy nhiên, trong những câu chuyện ở đây, có một cơn gió Mậu dịch thoảng qua mang theo giọng nói của một người phụ nữ
Những tiếng thở dài của cô ấy không phải là những tiếng rên của một sinh linh trong hố sâu của sự đồi trụy, mà là những bài hát cháy bỏng của nàng công chúa Iseult bên cửa sổ nhà nàng. Là nhà thơ hay là nhạc sĩ, tôi không biết nữa, cô ấy đã làm biến đổi vĩnh cửu vẻ đẹp tiếng kêu của linh hồn khi thoát ra khỏi bí mật của màn đêm hay nơi kín đáo. Từ một vị quan nho hay từ nữ thần pantheon của châu Á nào cô đã học được nghệ thuật diễn đạt đó, bằng kết hợp của sức mạnh uy nghi và sự khiêm nhường, với lễ hội rực lửa của cơ thể. Hãy ẩn lánh, nhưng đừng xấu hổ với yêu đương mà bạn có. Nếu có một lời nhắn nhủ, thì đây là thông điệp mà Hồ Xuân Hương muốn gửi gắm…”
+ Hữu Ngọc và nữ văn sĩ Pháp Franoise Corrèze:
Mở đầu cuốn “Hồ Xuân Hương ou le voile déchiré”. Nxb Fleuve Rouge, Hanoi 1979, của tác giả Hữu Ngọc và nữ văn sĩ Pháp Françoise Correze là những dòng: “Tên họ Hồ Xuân Hương nối lên như một bông pháo hoa trong nên văn học cổ điển Việt Nam mà bà là “đứa con kinh khủng”. Hồ Xuân Hương thật độc đáo. Cái độc đáo ấy – với tư cách là phụ nữ, bà đòi hỏi thế chế phong kiến ngặt nghèo, cuôc sống tình dục cho phụ nữ. Cái độc đáo ấy – với tư cách là nhà văn, bà công kích quyết liệt những quy tắc và thói quen vẫn ràng buộc văn học Việt Nam với những quan niệm Trung Quốc“.
+ M. Durand (Pháp):
Tác giả cuốn “Ľoeuvre de la poé tesse vietnamiene Hồ Xuân Hương”,1968. Trong lời tựa, có đoạn:
“… Bà thuộc vào số những người phụ nữ khó lấy chồng vì đã xấu lại còn nghèo nữa. Và một sự kiện quan trọng, bà bị ám ảnh bởi cái ham muốn dâm dục cũng như bởi một con bệnh thật sự, bệnh hay ám ảnh sẽ gợi hứng cho hầu hết những bài thơ của bà. Nhưng sự thông minh, thị hiếu văn học. tính tình nghịch ngợm của Xuân Hương cho phép bà thực hiện những sáng tác lấp lửng hai mặt khó đến mức chúng có vẻ ngây thơ với người đọc không thành thạo. Còn đối với người đọc thành thạo thì chúng là những ví dụ về sự phóng túng và ít nhiều tục tĩu. Cái mới mà Hồ Xuân Hương đóng góp cho văn học ViệT Nam, là táo tợn đến sửng sốt vì đó lại là văn chương do phụ nữ viết, đó là sự phá vỡ khuôn khổ những cấm đoán văn học và đạo đức. Bà dám nói đến những vấn đề tính dục. Bà biết làm điều đó khéo léo, và bao giờ cũng bóng gió, đến mức người ta không thể kết án bà được. Sư táo tợn này là một tuyên bố, Xuân Hương hoặc được thừa nhận, hoặc bị phê phán…”
+ Constantin Lupeanu (Rumania) – Chủ tịch Hội Hữu nghị Rumani – Việt Nam. Dịch giả cuốn “Xuan Huong Poeme”, Mira & Constantin Lupeanu, Nxb Qilinul din Jad, 2006, trong lời tựa, có đoạn:
“… Hồ Xuân Hương viết thơ rất thẳng thắn, bà chọn cách thể hiện bằng loại thơ cổ điển khổ 8 câu,mỗi câu có 7 từ. Tiếng Việt là một thứ tiếng có giai điệu (6 kiểu tone!), vì thế nên nó giống như là âm nhạc, với những vần dễ đặt được nhờ những từ đồng âm. Giọng thơ của nhà thơ rất giản dị, diễn đạt rõ ràng, nhưng đa số là thể hiện hai ý. Sự mơ hồ này cho phép bà diễn tả cuộc sống thầm kín của người phụ nữ, những tâm tư thầm kín nhất, tình yêu tự do, mưu cầu hạnh phúc, kể cả sự khích lệ xác thịt, dục vọng. Thơ của bà sau này đã trở thành nổi tiếng trên thế giới, đặc trưng của văn chương và nghệ thuật. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là một sự mù quáng về xác thịt, sự tưởng tượng bậy bạ, nhưng chúng tôi lại nghĩ rằng không phải những điều đó làm cho bà nổi tiếng, mà chính là do sự tiếp cận táo bạo, cởi mở tới mức xé rào những chuẩn mực đạo đức trong ngôn ngữ tiếng Việt. Sống một mình, không bị ràng buộc về những trách nhiệm của gia đình, Hương Vị Mùa Xuân viết về mọi chủ đề, không hề ngần ngại. Bà phê phán tình trạng xã hội thời đó,với một cách thể hiện thông minh và hấp dẫn,do đó bà đã đạt được sự mến mộ của đông đảo người dân. Khi diễn tả tình yêu, nhà thơ thể hiện rất bình tĩnh, nhẹ nhàng và hiện thực, như là bà đang ở ngoài cuộc và cố đặt mình vào vai của một cặp đang yêu nhau. Nhà thơ đi vào và giải quyết đề tài này một cách dứt khoát hơn các nhà thơ khác cùng thời với bà, và nhà văn duy nhất được so sánh với bà là nhà văn Rabelais (François Rabelais (khoảng 1494 – 1553) là một nhà văn Pháp thời Phục hưng, bác sĩ và là một người theo chủ nghĩa nhân văn…).
Nhà nghiên cứu văn hoá Trần Đình Tuấn