Thực ra bi kịch lớn nhất của Hồ Xuân Hương chẳng phải là phận làm lẽ, hay nỗi đoạn trường của “năm thì mười họa” “cố đấm ăn xôi”, mà chính là việc bà bị hậu thế biến thành một biểu tượng một chiều. Suốt hàng thế kỷ, chúng ta say sưa với một Xuân Hương lém lỉnh, một người đàn bà dùng chữ Nôm để “giải phẫu” những thói hư tật xấu của đám mày râu bằng những ẩn dụ đầy tính dục. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở Bánh trôi nước hay Cái quạt, liệu bà có đủ tầm vóc để xác lập một vị thế độc tôn trong dòng chảy khắc nghiệt của văn học trung đại? Câu trả lời, hóa ra lại nằm trong những trang chữ Hán đầy vẻ trang trọng nhưng cũng đầy u hoài mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã “đào bới” được từ những thư viện xa xôi tại Pháp. Chùm thơ Đề Vịnh Hạ Long chính là một liên văn bản quan trọng, mở ra cánh cửa vào bản thể thực sự của “Bà chúa thơ Nôm”.

​Sự phát hiện của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn vào năm 1952 là một cuộc giải vây về mặt tư duy thực thụ. Tại sao một người đàn bà vốn được coi là “nổi loạn” chống lại khuôn mẫu bấy giờ lại có thể viết những vần thơ chữ Hán chuẩn mực, điêu luyện đến thế? Câu trả lời nằm ở quãng đời ngắn ngủi nhưng huy hoàng khi bà theo Trần Phúc Hiển về trấn nhậm Yên Quảng. Hãy hình dung về một người phụ nữ vừa đi qua những đổ vỡ, những tủi nhục của phận thiếp, bỗng nhiên được đứng trước sự kỳ vĩ của vịnh Hạ Long. Ở đó, trước biển cả, Xuân Hương đối diện trực tiếp với thiên nhiên, vũ trụ. Trong bài thơ Trạo ca thanh khi bà viết về những hòn đảo đá vôi “lô nhô như măng mọc”. Đó là cái nhìn của một người thấu hiểu địa hình, một người đang đứng ở vị thế của kẻ đồng hành cùng vị quan đầu trấn để quan sát biên thùy. Sự gần gũi của hình ảnh “măng mọc” đặt giữa cái bao la của mây nước. Bà đã hòa hợp cái tôi cá nhân vào cái ta của tạo hóa. Ở đây cho thấy một tâm hồn đã đạt đến độ chín về trải nghiệm, thoát ly khỏi những phản kháng trực diện để tìm về sự tĩnh tại của triết học phương Đông.

​Thế nhưng, điều khiến người ta thực sự ấn tượng khi tiếp cận chùm thơ chữ Hán này lại nằm ở bài Hải ốc trù. Đây là lúc mà mọi định kiến về một Xuân Hương “chỉ giỏi thơ nói về chuyện buồng kín” hoàn toàn sụp đổ. Hãy nhìn vào cái cách bà nhắc đến Tần Thủy Hoàng. Trong thế giới quan của người phụ nữ thế kỷ XIX, việc đem một vị hoàng đế phương Bắc ra để làm “vật trang trí” cho một lập luận về chủ quyền là điều cực kỳ hiếm thấy. “Dấu ngựa Thủy Hoàng chưa đến đó / Trời dành để giữ đất người Nam”. Hai câu thơ này là một cú đập bàn đanh thép của một trí thức yêu nước. Bà nhìn thấy trong địa thế hiểm trở của Hạ Long một trận đồ thiên tạo, một sự ưu ái mà trời đất dành riêng cho dân tộc Việt. Bà nhìn thấu suốt lịch sử, thấu suốt tham vọng của các triều đại phương Bắc và khẳng định một chủ quyền bất khả xâm phạm bằng một sự kiêu hãnh của bậc sĩ phu.

Nhưng Xuân Hương vẫn là Xuân Hương, bà chẳng bao giờ để mình trở thành một cái máy phát ngôn tư tưởng khô khan. Ngay cả trong niêm luật khắt khe của thơ chữ Hán, cái chất “đàn bà” đầy nữ tính vẫn len lỏi vào một cách tài tình. Trong Nhãn phóng thanh, màu xanh của nước biển Hạ Long, bà bảo rằng màu xanh ấy như được tỏa ra từ “mắt người”. Đây là một phép so sánh cực kỳ táo bạo và hiện đại. Biển chính là nội tâm, là ánh nhìn, là sự sống động của một người phụ nữ đang yêu và được yêu. Phải có một sự tự tin ghê gớm về nhan sắc và tâm hồn thì mới có thể viết được một câu thơ như thế. Nó cho thấy ở vùng Yên Quảng năm ấy, Xuân Hương đã thực sự được sống như một cá nhân tự do, thoát khỏi những kìm kẹp của lễ giáo kinh kỳ để giao hòa với sóng nước. ​

Sự mâu thuẫn, hay nói đúng hơn là sự đa diện  giữa một Xuân Hương “Nôm” và một Xuân Hương “Hán” thực chất là sự hoàn thiện của một nhân cách văn hóa. Chúng ta bấy lâu đã sai khi cố tách rời hai mảng này. Thơ Nôm là khi bà đứng ở mặt đất, giữa đám đông bùn lầy nước đọng để chiến đấu. Còn thơ chữ Hán ở Hạ Long là khi bà đứng trên đỉnh núi cao để chiêm nghiệm. Thiếu đi một trong hai, chân dung của Xuân Hương sẽ trở nên méo mó. Nếu chỉ có thơ Nôm, bà sẽ  là một người đàn bà chua ngoa; nếu chỉ có thơ chữ Hán, bà sẽ lại tan biến vào hàng ngàn thi sĩ trung đại khác. Chính sự giao thoa này mới tạo nên một hiện tượng độc nhất vô nhị. Chùm thơ vịnh Hạ Long chính là bằng chứng sống cho thấy trí tuệ của Xuân Hương không hề thua kém bất kỳ đấng mày râu nào. Bà am tường điển tích, thành thạo luật đối, nhưng quan trọng hơn cả là bà có một nhãn quan lịch sử cực kỳ sắc bén. ​

Hành trình tìm lại diện mạo khác của Hồ Xuân Hương cũng buộc chúng ta phải tự vấn về tâm thế tiếp nhận. Tại sao chúng ta xu hướng thích một Xuân Hương “tục” hơn? Có lẽ sự tục ấy thỏa mãn trí tò mò đám đông dễ dàng hơn là việc thấu thị những tầng nấc tri thức trong thơ chữ Hán.

Kết nối những mảnh thơ cùng những mảnh vỡ lịch sử, sự gặp gỡ giữa Xuân Hương và Trần Phúc Hiển tại Hạ Long là một trong những giai thoại đẹp, cũng là buồn nhất đời bà. Đẹp vì đó là lúc tài năng của bà được trân trọng, được nảy nở giữa không gian hùng vĩ. Buồn vì sau những vần thơ hào sảng ấy lại là một kết cục bi thảm của người chồng, kéo theo sự biến mất của bà vào hư vô của lịch sử. Cũng chính sự biến mất ấy lại càng làm cho những bài thơ vịnh Hạ Long trở nên giá trị hơn. chúng là những “hóa thạch” của một tâm hồn vĩ đại, được lưu giữ qua bao thăng trầm để đến ngày nay, chúng ta có cái nhìn công bằng hơn về bà. Hồ Xuân Hương không chỉ là “Bà chúa thơ Nôm”, bà là một nghệ sĩ lớn, một nhà tư tưởng có tầm vóc, một người đàn bà đã dùng cả hai thứ ngôn ngữ để viết nên bản trường ca về sự tự tôn dân tộc và khát vọng sống cá nhân. ​

Cuối cùng, khi rũ bỏ tất cả những mỹ từ hay những cấu trúc phân tích khuôn mẫu, cái còn lại sau cùng là hình ảnh một người đàn bà đứng trên thuyền, giữa mênh mông sóng nước Hạ Long, đôi mắt tỏa ra sắc xanh của biển, lòng trào dâng một niềm tự hào về vùng đất “Trời dành để giữ đất người Nam”. Hình ảnh ấy mạnh mẽ và ám ảnh hơn bất kỳ trang sử liệu nào. Nó chứng minh rằng, văn chương đích thực không cần phải nằm trong những khuôn khổ định sẵn. Hồ Xuân Hương đã sống, đã yêu và đã viết bằng tất cả bản năng và trí tuệ của mình. Việc chúng ta tìm lại được chùm thơ chữ Hán này là một cuộc hồi sinh về linh hồn, trả lại cho lịch sử văn học Việt Nam một gương mặt trọn vẹn, một gương mặt mà dù thời gian có phủ bụi bao nhiêu đi nữa, vẫn luôn rạng rỡ đối với thế hệ mai sau. ​

Thanh Ngân