Một phát hiện không mới nhưng vẫn luôn gợi nhiều hứng thú cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về thế giới thi ca của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Đó là cuộc tranh cãi chưa bao giờ dứt quanh tín ngưỡng Phật giáo trong thơ bà. Có người cho rằng, giữa những bài thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của bà, khi cùng nói về đạo Phật, tồn tại một khoảng cách sâu thẳm như hai nửa linh hồn. Có người khác lại khẳng định, chính mâu thuẫn ấy mới là bản thể sống động của Hồ Xuân Hương. Những cuộc tranh luận ấy, dẫu đã trôi qua hơn hai trăm năm, vẫn chưa ngã ngũ. Từ các học giả cho đến người yêu thơ, ai cũng muốn hiểu: đâu là chân dung thực của Hồ Xuân Hương? Có phải bà là một Phật tử thành kính, hay chỉ mượn Phật giáo để giễu nhại đời, để phơi bày sự đạo đức giả của những kẻ đội lốt tu hành?
Nhiều giả thuyết từng xuất hiện như: có “hai Hồ Xuân Hương”, những bài thơ Nôm phê phán vốn là của Tú Xương, hoặc rằng những truyền tụng dân gian đã đánh tráo một giọng thơ khác thành tên bà… Đương nhiên trên cương vị một hậu thế, bài viết này không nhằm phân định đúng sai bất kỳ nhận định nào ở trên. Bởi tôi luôn cho rằng: thơ, tự nó đã vượt ngoài ranh giới của chứng cứ. Điều đáng quan tâm trong bài viết này, là giữa hai mạch thơ chữ Hán và chữ Nôm, tín ngưỡng Phật giáo đã được Hồ Xuân Hương tiếp nhận ra sao? và chính sự phân thân đó đã làm nên một Hồ Xuân Hương thế nào?
Thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, thoạt nhìn, mang vẻ khác hẳn giọng thơ trào phúng, sắc sảo mà ta quen thuộc. Đó là một thế giới tĩnh lặng, thâm trầm, nơi người nữ sĩ tìm đến cửa Phật như tìm một bóng râm sau bao nhiêu sóng gió. Trong bài “Động Phật thâm u”, bà viết:
Tương truyền Phật tích tại Linh Sơn,
Mới được sơn ông chỉ đỉnh non.
Cửa động nông sâu đầy cỏ dại,
Chữ mờ đậm nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, nơi cầu đó,
Múc nước khe trong, chẳng cạn dòng.
Sắc tức thị không, không thị sắc,
Thiền gia như thấy việc trần gian.
Ngôn ngữ ấy chậm rãi, thành kính, toát lên vẻ chiêm nghiệm của người đã đi qua một quãng đường dài của nhân thế. Câu “Sắc tức thị không, không thị sắc” là lời nhắc lại tinh thần Bát Nhã, tức mọi hiện hữu chỉ là tạm bợ, nơi có và không nương nhau mà thành. Ở đây, Hồ Xuân đang bước vào cõi u tịch của tâm, soi thấy bóng mình trong mặt nước tĩnh. Trong những bài chữ Hán này, Hồ Xuân Hương thường chọn điểm nhìn ở ngoại cảnh, không đi sâu vào động Phật mà dừng lại nơi cửa động. Có lẽ vì nơi “thâm u” nhất của đạo không nằm trong lòng núi, mà trong ánh nhìn người đang chiêm ngưỡng nó. Sự mờ ảo của “cỏ dại”, của “chữ mờ dấu rêu mòn” là trạng thái tâm linh: khi con người đối diện với cái thiêng, ta vừa thấy nửa thực, nửa ảo. Bài thơ không mô tả Đức Phật, mà để người đọc tự khởi lòng thành, tự tưởng tượng lấy Đức Phật của riêng mình.
Cùng trong mạch ấy, các bài như “Lên núi Tháp nhớ xưa”, “Đề chùa Trấn Quốc”, “Dạo chùa Khánh Minh cảm hứng” đều cho thấy Hồ Xuân Hương hiểu sâu về Phật pháp. Bà nhắc đến vua A Dục, người truyền đạo khắp Ấn Độ; nhắc đến Đức Phật Như Lai Thiên Thủ; và thường kết bài bằng những hình ảnh trăng, nước, mây như biểu tượng của sự thanh lọc và trí tuệ. Từng câu thơ đều thấm tinh thần từ bi, vô ngã. Một Hồ Xuân Hương trong thơ bằng chữ Hán, đằm thắm, tĩnh tại, hướng nội.
Và nếu chỉ đọc những bài này, hẳn nhiều người sẽ nghĩ bà là người nữ mộ đạo, tu dưỡng tâm linh giữa cõi loạn. Nhưng khi bước sang thơ chữ Nôm, ta nghe thấy một giọng khác: rắn rỏi, trào lộng, phóng túng và đầy sức sống. Cũng đề tài Phật giáo, nhưng giọng điệu đổi hẳn. Phật ở đây không còn là cõi tịnh, mà trở thành tấm gương để bà phản chiếu đời thường. Trong “Chùa Sài Sơn”:
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am.
Chỉ hai câu đã đủ khiến bao nhà nho phải đỏ mặt. Sự nhạy bén của Hồ Xuân Hương nằm ở chỗ, bà không báng bổ đạo, mà phơi bày con người dưới lớp áo đạo. Giữa am thiền mà vẫn đầy dục vọng, giữa kinh kệ mà vẫn vang tiếng phàm tâm. Đó là cách bà nói về bản thể con người: ai cũng có phần “trọc”, phần “tiểu” trong tâm.
Trong “Chùa Quán Sứ”, giọng điệu càng rõ:
Này của riêng ai khéo vẽ vời,
Non xanh nước biếc có người ngồi.
Câu thơ tưởng chừng hồn nhiên mà ẩn chứa sự thách thức, như thể người đàn bà ấy đang nhìn thẳng vào tượng Phật, vào bức tranh nhân sinh mà mỉm cười: “của riêng ai khéo vẽ vời”, phải chăng thế giới này, cả đạo lẫn đời, cũng chỉ là một cuộc vẽ vời vô tận? Còn những bài như “Sư bị ong châm”, “Hang Thánh Hóa”, “Động Hương Tích”… khiến cả những người đọc đương thời phải kinh ngạc.
Có lẽ Hồ Xuân Hương nhìn thấy cả cái thiêng lẫn cái tục, với tính cách bà thì dĩ nhiên không chịu để chúng tách rời nhau. Đạo Phật trong thơ Nôm của bà không nằm ở sự siêu thoát, mà ở lòng nhân bản: ai cũng có ham muốn, có yếu mềm. Chính khi nhận ra điều đó, con người mới thật sự gần Phật. Thế giới Phật giáo trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, vì thế, vừa chứa những đối tượng giễu nhại, vừa là ẩn dụ triết học. Bà mượn tiếng cười để soi thấu sự giả dối của những kẻ mượn đạo làm đời.
Nếu trong thơ chữ Hán, Hồ Xuân Hương ngước nhìn Phật từ xa, thì trong thơ Nôm, bà kéo Phật lại gần, để đối thoại, để hoá giải khoảng cách giữa thiêng và tục. Và cũng có thể nói rằng, chỉ khi đặt hai mạch thơ này cạnh nhau, ta mới thấy hết tầm vóc lưỡng cực của Hồ Xuân Hương. Một bên là người đàn bà trí tuệ, am hiểu Tam giáo, tìm đến cõi Phật như nơi an trú. Một bên là kẻ phàm trần, không chấp nhận bất cứ khuôn phép nào, dám chọc thẳng vào những gì giả dối. Hai thái cực ấy thống nhất trong sự tự do. Tự do trong tâm tưởng khiến bà có thể quỳ xuống trước Phật với lòng kính ngưỡng, rồi đứng dậy mà cười vang trước những sư giả, ni giả. Tự do chính là “ngưỡng cửa không thể khuất phục” của Hồ Xuân Hương, nơi đạo và đời giao nhau, mà không bên nào nuốt chửng được bên nào. Như ở “Động Phật thâm u”, ta thấy bà dừng lại ở cửa động, không bước sâu vào. Còn ở “Chùa Sài Sơn”, bà lại đứng ngay trong am, mà vẫn giữ khoảng cách để cười. Phải chăng đó là hình ảnh ẩn dụ: con người mãi mãi chỉ có thể đứng bên ngoài cánh cửa của tuyệt đối, dù là trong đạo hay trong đời? Bởi thế, nếu thơ chữ Hán là mặt tĩnh, thì thơ chữ Nôm là mặt động. Một bên là ánh trăng soi nước, một bên là ngọn sóng vỗ vào bờ. Chính nhờ hai mặt ấy mà hình tượng Hồ Xuân Hương trở nên đầy đặn, chân thực và đa chiều.
Cũng phải nói thêm rằng, sự phân hóa ấy đôi phần phản chiếu hoàn cảnh lịch sử và thân phận của bà. Cuối thế kỷ XVIII – đầu XIX, xã hội phong kiến rạn nứt, Nho giáo suy tàn, Phật giáo và Lão giáo cùng hồi sinh. Trong dòng chảy ấy, người phụ nữ thông tuệ như Hồ Xuân Hương sẽ đứng giữa nhiều luồng tư tưởng. Cảnh chùa, động, non nước trong thơ bà vì thế không chỉ là nơi du ngoạn, mà còn là ẩn dụ cho tâm thế kiếm tìm.
Hai trăm năm đã trôi qua, những cuộc tranh cãi quanh thơ Hồ Xuân Hương vẫn chưa có hồi kết. Từ tín ngưỡng Phật giáo đến vấn đề giới tính, quyền phụ nữ, đến cả nghi án văn bản học. Có thể sau này, những cuộc tranh luận ấy còn tiếp diễn, lan sang cả những lĩnh vực khác. Nhưng có lẽ, đó chính là dấu hiệu tốt. Bởi một thi sĩ chỉ thật sự “sống với thời gian” khi người ta còn muốn tranh cãi về họ. Mỗi thế hệ sẽ đọc lại Hồ Xuân Hương theo cách riêng: có người thấy bà là người đàn bà nổi loạn, có người thấy bà là Phật tử giác ngộ, có người thấy bà chỉ đơn thuần là tiếng nói nhân sinh.. Nhưng chừng nào người ta còn muốn hỏi về bà, chừng đó bà vẫn còn sống. Sống bằng tiếng cười, bằng khát vọng, bằng chính “ngưỡng cửa không thể khuất phục” trong tâm hồn mình.
Bài viết này là kết quả của một quá trình tìm đọc, đối chiếu và suy ngẫm cá nhân, được hình thành trên nền tảng nhiều công trình nghiên cứu, bài phê bình và tư liệu về Hồ Xuân Hương. Các trích dẫn thơ trong bài dựa trên những bản văn được sử dụng phổ biến. Người viết cũng nhận thức về những tranh luận còn tồn tại quanh vấn đề dị bản và tác quyền. Nên mọi phân tích và kết luận trong bài viết chỉ mang tính tham chiếu, thể hiện quan điểm riêng, nhằm góp phần soi sáng thêm vẻ đẹp đa tầng của hình tượng thi sĩ, hơn là đi đến bất kỳ phán quyết học thuật nào. Bài viết cũng xin bày tỏ lòng tri ân đối với những học giả và người yêu văn chương đã âm thầm gìn giữ di sản của nữ sĩ Hồ Xuân Hương suốt hơn hai thế kỷ qua.
Thanh Ngân





