Trong hàng nghìn năm qua, chưa bao giờ hình ảnh người mẹ đơn thân lại được nhìn nhận bằng một thái độ cởi mở như ngày nay. Họ xuất hiện với sự tự chủ, nghị lực phi thường và tình yêu thương vô bờ bến. Khái niệm “gia đình hạt nhân” truyền thống đang dần nhường chỗ cho “gia đình lựa chọn”, nơi đứa con là thành quả của ý chí, mà chẳng nhất thiết phải là sản phẩm của một hôn nhân. Dù vẫn còn đó những lời xì xào, phán xét âm thầm ở một góc khuất nào đó của dư luận, nhưng ít nhất, họ đã không còn phải đối diện với nỗi sợ hãi tột cùng: bị bêu riếu, ngả vạ, hay bị hủ tục cộng đồng tước đoạt nhân phẩm và sinh mạng. Sự tiến bộ này là thành quả của cả một hành trình dài đấu tranh của nhân phẩm và tư tưởng.
Lấy cảm hứng từ sự tự do tương đối ấy của người phụ nữ hiện đại chúng ta hay thử quay ngược về những thế kỷ trước, và về giai đoạn cuối Lê – đầu Nguyễn hỗn loạn, nơi Hồ Xuân Hương từng sống. Đây là thời kỳ mà hệ thống luật pháp và đạo đức bắt đầu rạn nứt, người phụ nữ bị xiềng xích bởi tư tưởng “tam tòng tứ đức” và định kiến trọng nam khinh nữ. Sự ra đời của một đứa con ngoài hôn thú, hay hành vi “chửa hoang,” bị coi là tội phản bội lại trật tự làng xã, mối đe dọa đến “danh dự” của cả cộng đồng. Nếu xét về mặt Luật pháp chính thống, bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), mà các học giả xác nhận vẫn có hiệu lực thời bấy giờ, đã quy định các hình phạt như đánh trượng, phạt tiền, và quan trọng hơn, luật còn quy định trách nhiệm của người đàn ông phải nhận và nuôi con.
Nhưng luật lệ trên giấy tờ đó, đã bị nuốt chửng bởi sự tàn bạo của Lệ làng và Hương ước ở cấp cơ sở. Trong giai đoạn chính quyền trung ương suy yếu, quyền tự trị của làng xã đã lấn át tất cả. Đây mới chính là nguồn cơn của sự khắc nghiệt và tàn nhẫn, bởi các hình phạt được thi hành nhằm răn đe và bảo vệ cái “danh dự” giả tạo của cộng đồng.
Lệ làng đã biến người phụ nữ thành vật tế của đạo đức. Hình phạt phổ biến nhất chính là triệt tiêu danh dự: Bêu riếu, làm nhục công khai bằng cách dẫn đi quanh làng, cạo đầu, bôi vôi hoặc bôi nhọ nồi. Họ bị buộc phải sống trong tủi nhục tột cùng. Kèm theo là hình phạt vật chất nặng nề, buộc phải nộp phạt vạ cho làng bằng tiền, lợn, gà, rượu, khiến gia đình tán gia bại sản. Sự hà khắc này không chỉ nằm trong tài liệu khảo cứu; nó còn phản ánh rõ trong tư liệu dân gian và văn học (tiêu biểu là truyện thơ: Quan Âm Thị Kính được phỏng theo một dị bản Phật Giáo tầm thế kỷ XVII-XVII. Kể đoạn Hương chức làng đòi phạt vạ Thị Mầu tội chửa oan, dẫn đến việc cô ta sợ tội mà đổ oan cho Kính Tâm.) Hay sự xuất hiện dai dẳng của hình ảnh “thả trôi sông, nhảy sông” trong các câu chuyện dân gian và khảo cứu đã phản ánh một thực tế cực đoan ở một số địa phương. (Chuyện người con gái Nam Xương, Vũ Nương phải nhảy sông vì bị nghi ngờ thông gian.) Án lệ ấy đã gieo rắc nỗi sợ hãi và kinh hoàng, đặc biệt khi chính quyền trung ương không can thiệp kịp thời. Đối với phụ nữ quyền quý, hình phạt kín đáo hơn như bị giam lỏng, ép tự sát, hoặc trục xuất… cũng không kém phần tàn khốc, chỉ để giữ kín “nỗi nhục” của gia tộc.
Giữa cơn bão táp của luật tục ấy, Hồ Xuân Hương đã sử dụng thơ ca như một vũ khí để lên tiếng. Nữ sĩ thương cảm và còn trực tiếp chất vấn sự giả đạo đức của xã hội. Trong bài thơ “Không chồng mà chửa”:
Cả nể cho nên sự dở dang,
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nảy nét ngang?
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có, nhưng mà có, mới ngoan!
Nhiều giả thuyết dân gian cho rằng bà viết bài này để bênh vực một cô gái cùng làng bị chê cười vì chửa oan. Đặc biệt, có một giả thuyết khác liên hệ trực tiếp đến cuộc đời nữ sĩ: Đó là câu chuyện Hồ Xuân Hương viết bài thơ trong lúc bà đang mang thai đứa con đầu lòng, nhưng vẫn cắt đứt tình duyên với người chồng đầu tiên là Tổng Cóc. Nếu giả thuyết này là đúng, bài thơ không chỉ là sự bênh vực cho người khác, mà còn là lời đầy kiêu hãnh của chính bà trước sóng gió cuộc đời. Và dù ra đời từ câu chuyện của người khác hay từ bi kịch của chính mình, bài thơ vẫn đạt đến giá trị đỉnh cao.
Câu thơ “Không có, nhưng mà có, mới ngoan!” là một sự đảo nghịch có chủ ý, thái độ giễu cợt và phản kháng mạnh mẽ. Hồ Xuân Hương đã biến cái hành vi bị xã hội lên án thành một hành động đáng ngưỡng mộ (“mới ngoan”), đối lập với sự tầm thường, thiếu tình người của xã hội thời bấy giờ. Chính nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn cũng đã đặt bài thơ trong bối cảnh những ông chánh tổng, lý trưởng rình rập, sai mõ khản hơi rao khắp xóm cùng làng để ngả vạ, cho thấy thơ của Hồ Xuân Hương đã trực tiếp chạm vào sự thối nát và quyền lực hủ bại của tầng lớp chức dịch làng xã.
Sự dũng cảm của người phụ nữ trong thơ còn vượt lên trên cả sự giễu nhại. Sau khi thừa nhận sự thật: “Cả nể cho nên sự dở dang, / Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?”, người phụ nữ đã đi đến lời tuyên bố tối thượng: “Mảnh tình một khối thiếp xin mang.” Học giả Lê Trí Viễn nhấn mạnh ý nghĩa bốn câu thơ: người phụ nữ ấy không tìm cách hủy cái thai hay trốn tránh, mà “dõng dạc tuyên bố “thiếp xin mang”. Đây là hành động cao thượng và dũng cảm, sự đảm nhiệm sứ mệnh làm mẹ, chống lại mọi dư luận, hành vi vô nhân đạo của xã hội phong kiến. Là hình ảnh người phụ nữ “vị tình, vị nghĩa”, dám đương đầu với mọi thiệt thòi. Đồng thời, với câu thơ “Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?” (có bản : Cái tội trăm năm chàng chịu cả) Hồ Xuân Hương đã thẳng thắn chất vấn trách nhiệm phía đàn ông.
Có lẽ, chính vì những điều đó mà thơ Hồ Xuân Hương, được giới nghiên cứu hiện đại đánh giá chứa đựng tư tưởng nữ quyền, tiêu biểu trong văn học Việt Nam. Bởi thơ bà đã tạo nên những di sản tư tưởng vô giá.
Nhìn lại, chúng ta mới thấy hết giá trị của cuộc chiến nhiều năm trước. Ngày nay, luật pháp đã bảo vệ người mẹ đơn thân khỏi hình phạt bôi vôi, nhưng họ vẫn phải đối diện với “miệng thế lời chênh lệch” phiên bản hiện đại. Đó là sự phán xét vô hình, ánh mắt soi mói, những câu hỏi riêng tư xâm phạm… Họ vẫn phải gánh vác áp lực kép về kinh tế và cảm xúc, một mình đối diện với những định kiến thầm lặng về sự thiếu vắng người cha. Sự kỳ thị này chính là dư âm dai dẳng của cái xã hội phong kiến cũ. Tuy nhiên, người mẹ đơn thân hiện đại chính là hiện thân mạnh mẽ nhất của tinh thần mà Hồ Xuân Hương đã nhắc. Họ là những người đã biến cái gọi là “lỗi lầm” thành “Mảnh tình một khối” mà họ tự nguyện và dũng cảm mang lấy. Họ chọn cách tự định nghĩa hạnh phúc, tự xây dựng cuộc sống mà không cần sự chứng nhận của đạo lý cổ hủ truyền thống, chứng minh rằng tình yêu thương và sự tự chủ mới là thước đo giá trị nhân phẩm, chứ không phải một tờ hôn thú hay sự chấp thuận của làng xã.
(Lưu ý: Sự thay đổi nhận thức về người phụ nữ chưa bao giờ là thành quả của một cá nhân đơn lẻ. Đúng là tiếng thơ của Hồ Xuân Hương là ngọn lửa, nhưng nền tảng làm rạn nứt các hủ tục lại đến từ sức mạnh vô hình và bền bỉ của hàng vạn người phụ nữ vô danh đã âm thầm gánh chịu và vượt qua định kiến trong đời sống thực tế, cùng với sự tác động to lớn của các yếu tố xã hội, kinh tế. Công lao của Hồ Xuân Hương là bà đã chắt lọc, cô đọng khát vọng tự do tiềm ẩn trong số đông thành một biểu tượng nghệ thuật có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tiếng nói đại diện xuất sắc, chứ không phải là người duy nhất kiến tạo nên sự phản kháng. Hồ Xuân Hương cho ta một điểm tựa tư tưởng sắc sảo, nhưng “giải lời nguyền” trong thực tế là cuộc hành trình tập thể của nhiều thế hệ.)
Thanh Ngân





