Có những mùa xuân không chỉ là sắc hoa đào, nắng ấm và câu chúc đầu năm. Có những mùa xuân là gươm súng, là khói lửa chiến tranh, là những bước chân dũng mãnh đi qua bom đạn để mang lại Tổ quốc thanh bình. Trong mùa xuân 1968 bất tử của lịch sử Việt Nam, hình ảnh người chiến sĩ ngã xuống rồi gượng đứng lên giữa đường băng Tân Sơn Nhất đã trở thành một biểu tượng không thể phai mờ. Đó là “Dáng đứng Việt Nam” thiêng liêng trong thơ ca, là hình ảnh kết tinh của chiến công, của lòng yêu nước đến tận cùng của những người lính Giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm ấy.

Bài thơ Dáng đứng Việt Nam của nhà thơ – chiến sĩ Lê Anh Xuân, viết vào tháng 3 năm 1968, là một khúc tráng ca được viết bằng chính hơi thở của chiến trường:

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng…”

Những câu thơ ấy không chỉ tạc nên hình ảnh một người lính. Nó dựng lên dáng đứng của cả một dân tộc đang vùng dậy giữa thế kỷ XX, sẵn sàng hy sinh tất cả để giành lấy độc lập, tự do.

Nhưng chính từ đây, một câu hỏi lớn được đặt ra, câu hỏi khiến nhiều thế hệ day dứt: Người chiến sĩ đứng đó là ai? Đó chỉ là một hình tượng mang tính biểu trưng, hay là một con người bằng xương bằng thịt, với tên tuổi, quê quán, cuộc đời riêng đã bị chiến tranh cuốn đi?

Câu trả lời, sau nhiều năm lần tìm trong ký ức của những người còn sống, đã dần hiện rõ. Và nó khiến người đọc không khỏi lặng đi.

***

Theo lời kể cựu chiến binh Vũ Chí Thành, nguyên Trung đội phó Trung đội đại liên, đoàn 16, Phân khu 2 Long An, nguyên mẫu của hình tượng “dáng đứng Việt Nam” chính là liệt sĩ Nguyễn Công Mẹo, người con của làng Đồng Vinh 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Trong trận tiến công vào sân bay Tân Sơn Nhất đêm Giao thừa Mậu Thân, anh cùng một đồng đội khác đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, ngã xuống trong tư thế vẫn đứng, tay ôm súng, tì vào xác trực thăng của đối phương.

Đêm Giao Thừa lịch sử, theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh Miền, sân bay Tân Sơn Nhất là một trong những mục tiêu trọng yếu. Tiểu đoàn 16, đơn vị bộ binh đặc biệt tinh nhuệ, được giao nhiệm vụ đánh thọc sâu từ hướng Tây. Theo phương án ban đầu, pháo binh của Miền sẽ nổ súng đúng 2 giờ sáng làm hiệu lệnh cho các cánh quân đồng loạt tiến công. Nhưng giờ G trôi qua, sân bay vẫn im lìm. Pháo hỏa không tới được mục tiêu. Trận đánh buộc phải diễn ra trong điều kiện thiếu hỏa lực chuẩn bị, với sự chênh lệch lực lượng vô cùng lớn.

Tiểu đoàn 16 chia làm hai bộ phận. Lực lượng chủ công do tiểu đoàn trưởng Nam Sơn và chính trị viên Nguyễn Văn Sáu trực tiếp chỉ huy, lặng lẽ vượt qua hàng rào thép gai, bãi mìn, tiến sâu vào sân bay. Trước đó, bộ đội được phổ biến rằng sẽ có lực lượng phản chiến trong hàng ngũ đối phương, nhận diện bằng cờ xanh. Nhưng khi mũi tiến công vừa chạm vào khu vực thiết giáp, những loạt đạn bất ngờ nã thẳng về phía quân ta. Không có phản chiến. Chỉ có hỏa lực dữ dội.

Cuộc chiến diễn ra ác liệt ngoài mọi dự kiến. Đơn vị bị chia cắt. Địch liên tục phản kích bằng xe tăng, xe bọc thép và quân dù. Trong tình thế ấy, chính trị viên Nguyễn Văn Sáu vẫn dẫn đầu bộ đội chiến đấu, bám trụ từng vị trí, từng xác xe cháy, từng mảng bê tông đường băng làm điểm tựa.

Ðồng chí Phan Văn Tiệp quê ở xã Thạch Ðịnh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa là chiến sĩ của tiểu đoàn 16 trực tiếp chiến đấu trong trận này nhớ lại:

“Quân địch tổ chức tiến công nhiều đợt và phát loa kêu gọi ta đầu hàng vì chúng biết lực lượng ta vào trong sân bay rất ít. Chính trị viên Sáu ra lệnh dành đạn B40 để bắn xe bọc thép và máy bay, chỉ dùng tiểu liên, AK, lựu đạn và vũ khí của địch để diệt bộ binh địch. Quân địch chết la liệt có đến hàng nghìn tên. Nhưng bộ đội ta thương vong cũng nhiều.

Có đồng chí lúc hi sinh vẫn còn dựa vào xác máy bay, xác xe bọc thép và súng vẫn cầm trong tay như chờ địch đến gần để nhả đạn. Bọn địch có đứa trông thấy đã hoảng hốt giơ tay xin hàng”.

Tiểu đoàn 16 trong đêm đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất đã hi sinh gần 400 đồng chí, trong đó có 127 đồng chí đã hi sinh ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất. Cán bộ chiến sĩ hầu hết còn rất trẻ. Ðược huấn luyện rất bài bản gần 1 năm trời, là tiểu đoàn bộ binh đặc biệt tinh nhuệ

***

Sau chiến tranh, những người từng làm nhiệm vụ chôn cất tại sân bay kể lại rằng đã có một ngôi mộ tập thể chôn 180 bộ hài cốt liệt sĩ Giải phóng quân hy sinh trong đêm 31/1/1968. Nhiều năm sau, các hài cốt ấy mới được di dời về nghĩa trang thành phố. Và cho đến tận hôm nay, vẫn còn không ít gia đình chỉ nhận được dòng báo tử ngắn ngủi: “Hy sinh tại mặt trận phía Nam”, mà không biết chính xác con em mình đã ngã xuống ở đâu, trong hoàn cảnh nào.

Tiểu đoàn 16, đơn vị đã làm nên một trong những trận đánh khốc liệt nhất đêm Mậu Thân, dần dần lui vào quên lãng. Phiên hiệu không còn. Chiến công ít được nhắc tới. Nhiều nhân chứng lịch sử đã già hoặc đã khuất. Nhưng chính từ máu xương của họ, “Dáng đứng Việt Nam” đã ra đời và sống mãi.

Lê Anh Xuân khi viết không biết tên người chiến sĩ ấy. Nhưng trong khoảnh khắc chứng kiến dáng đứng bất khuất giữa đường băng Tân Sơn Nhất, ông hiểu rằng đó không còn là một con người riêng lẻ nữa, mà là hình ảnh đại diện cho cả dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến giữ nước.

“Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ…”

Người chiến sĩ ấy có thể là Nguyễn Công Mẹo. Có thể là đồng đội vô danh đứng bên cạnh anh. Cũng có thể là bất cứ người lính Giải phóng nào đã ngã xuống trong mùa xuân máu lửa ấy. Nhưng từ giây phút đó, họ không còn là những cái tên riêng lẻ. Họ đã trở thành dáng đứng Việt Nam, dáng đứng của một dân tộc không chịu khuất phục, không chịu quỳ gối, dù phải trả giá bằng cả sinh mệnh của mình.

Và chính từ dáng đứng ấy, Tổ quốc đã bay lên, không chỉ trong thơ, mà trong hiện thực lịch sử, trong độc lập, trong hòa bình mà chúng ta đang sống hôm nay.

Nhưng cũng có ai ngờ, từ “Dáng đứng Việt Nam”, một điềm báo cho vận mệnh nhà thơ Lê Anh Xuân đã được gióng lên…

Ngô Tiến Vinh