Tết – xuân, một cặp bài trùng mà hễ nhắc đến là người ta nghĩ ngay đến hoa đào, bánh chưng xanh, tiếng pháo giao thừa nổ khắp nẻo phố. Nhưng mùa xuân, với thi ca, vẫn còn đó những mùa xuân khác: không rực rỡ, không đông vui đoàn tụ, mà là những mùa xuân của ký ức — ký ức của con người đi qua gian khó, chiến tranh và hy vọng.

Quang Dũng là một trường hợp điển hình như vậy. Ông có một bài thơ xuân từng bị lãng quên rất lâu, trước khi được tái khám phá cho đời sau đọc lại. Đó là “Nhớ những mùa xuân”.

Không phải vì bài thơ không hay. Trái lại, “Nhớ những mùa xuân” là một bức tranh mênh mông về Tết trong chiến tranh, về những mùa xuân đáng nhớ nhất của đời lính và đời người. Chỉ có điều, số phận của nó lại đi theo một cung bậc khác, như một mùa xuân bị che khuất.

***

Bài thơ bắt đầu như một lời nhắc nhẹ, nhưng đầy sức sống:

“Nhớ một xóm rừng

Hoa mai nở trắng

Xuân về…

Áo người mới nhuộm chàm xanh…”

Chỉ trong bốn câu mở đầu, mùa xuân đã hiện ra không chỉ như một bức tranh thiên nhiên thanh tân, mà còn là mùa xuân của con người trong chiến đấu. Những người lính, giữa gian khó, tinh thần vẫn rạo rực; cây cỏ vẫn nở hoa như tiếng reo của sự sống. Chỉ cần mấy câu thơ đầu thôi, người đọc đã thấy được không khí đầu năm nơi rừng sâu: hoa mai nở trắng, bếp lửa sàn hồng rực, tiệc vào xuân với thịt rừng trên lá chuối…

Và đặc biệt, trong thơ Quang Dũng, hoa mai ấy không đơn thuần chỉ là thiên nhiên. Đó là mùa xuân của một đất nước đang chiến đấu:

“Khẩu hiệu trên bàn thờ Tổ quốc:

Kháng chiến nhất định thành công, trường kỳ thắng lợi…”

Một mùa xuân của niềm tin. Mùa xuân của những con người vừa đi qua những ngày dài mưa bom bão đạn, giờ đứng bên nhau, bình thản mà đón xuân về.

Bài thơ kể tiếp những mùa xuân khác: tiệc tối ven đồi, những chặng hành quân tạm nghỉ, cảnh bóc bánh chưng từ hậu phương gửi ra, cho đến những mùa xuân ở biên giới, nơi mũi súng kề bên nhành cúc dại… Những người lính dường như tạm gác lại lằn ranh khốc liệt của chiến tranh, để đón nhận hương xuân ùa đến, dịu dàng mà kiên cường.

Qua từng câu chữ, ta thấy mùa xuân không chỉ là cái Tết đoàn tụ cùng gia đình, mà là Tết của ký ức, của người lính xa nhà, xa đồng bằng, nơi rừng núi và biên giới. Đó là mùa xuân của sự sống trỗi dậy giữa khói lửa, của tiếng chim reo vang sau những ngày mỏi mệt.

Để rồi từ đó, một lời hẹn ước giữa đồng bằng và miền núi bỗng cất lên, nhẹ nhàng mà bền bỉ, như một lời thề không để Tổ quốc suy suyển dù chỉ một tấc, một ly:

“Mùa xuân mong đợi mười năm

Đã về cờ xanh phấp phới

Mùa xuân đồng bằng

Lại nhớ rừng xanh

Những mùa xuân thắng lợi.”

***

Vậy mà bài thơ ấy, hoàn thành vào khoảng đầu năm 1954, chỉ vài tháng trước chiến thắng Điện Biên Phủ, lại không xuất hiện ngay trong sinh hoạt thi ca đại chúng. Nó bị che khuất mãi đến năm 1957 mới được xuất bản lần đầu trên tờ Giai phẩm của NXB Văn nghệ, tức hơn ba năm sau khi hoàn thành.

Ba năm, không nhiều nếu so với chiều dài lịch sử. Nhưng với một bài thơ xuân như “Nhớ những mùa xuân”, đó là một khoảng lặng không nhỏ, đủ để nó trôi khỏi dòng chảy thi ca sôi động sau 1954. Số phận lận đận của bài thơ, và cả những năm tháng long đong của chính Quang Dũng sau đó, có lẽ cũng bắt nguồn từ việc ra mắt chưa đúng thời điểm, không thật phù hợp với thị hiếu phổ biến lúc bấy giờ, nên không được đón nhận rộng rãi như nhiều áng thơ khác của ông.

***

Nếu chỉ đọc “Tây Tiến”, người ta dễ hình dung Quang Dũng như một người lính mang tâm hồn lãng mạn, buồn sâu và đầy hoài niệm. Nhưng trong “Nhớ những mùa xuân”, ta gặp một Quang Dũng khác: một mùa xuân sống động hiện ra, không chỉ mang dấu ấn chiến tranh, mà còn chan chứa hy vọng và đời sống bình dị được gìn giữ giữa chiến đấu. Cũng chính vì thế, bài thơ không dễ xếp vào những thi phẩm mang âm hưởng trữ tình thuần túy, hay xuân đoàn tụ gia đình. Những hình ảnh quen thuộc nhất của cặp bài trùng xuân – Tết lại được đặt vào bối cảnh chiến dịch, chiến trường, khiến bài thơ đi ra ngoài khuôn mẫu quen thuộc.

Có lẽ đó là lý do khiến “Nhớ những mùa xuân”, dù giàu chất thơ và chất nhân văn, từng bị lãng quên trong một thời gian dài, rơi vào một “khoảng lặng lịch sử”.

Nhưng như mọi bông hoa đào đang ngóng đợi mùa xuân, điều còn phải e ấp, bị che khuất, rồi cũng có lúc được khơi lại. Đọc “Nhớ những mùa xuân” hôm nay, ta không chỉ gặp lại mùa xuân của tuổi trẻ, của người lính, mà còn thấy một bức chân dung mùa xuân của đất nước, có chiến tranh, có gian khó, mà vẫn hướng về phía trước.

Mùa xuân trong bài thơ không đơn thuần là Tết. Đó là niềm vui sống, là hy vọng, là niềm tin vào ngày mới; là khoảng lặng dịu mềm mà ta hiếm khi gọi tên trong những ngày đầu năm rộn ràng. Tết đến, ta ăn bánh chưng, đi chúc Tết, ngắm pháo hoa. Nhưng trong “Nhớ những mùa xuân”, Tết còn là mùa xuân của những người lính xa nhà, của những cánh rừng thay áo, của làng bản vang tiếng khèn, của nỗi nhớ đồng bằng, nhớ sông Hồng, nhớ cây đào trên phù sa đôi bờ… Tết ôm trọn Tổ quốc như thế đấy!

Và cũng vì vậy, bài thơ, dù từng bị lãng quên, vẫn có thể được đọc lại hôm nay như một mùa xuân khác của thi ca Việt Nam: không ồn ào, không rực rỡ, nhưng sâu lắng, nhân văn và bền bỉ sức sống.

***

Xuân đến rồi đi, bài thơ bị che khuất rồi lại được nhớ.

Đọc lại “Nhớ những mùa xuân” trong những ngày đầu năm mới, ta hiểu thêm rằng:

mùa xuân không chỉ là Tết đầm ấm bên gia đình,

mà còn là mùa xuân của ký ức, của đời người,

và của những khát vọng không bao giờ bị che khuất hoàn toàn.

***

NHỚ NHỮNG MÙA XUÂN

 

Nhớ một xóm rừng

Hoa mai nở trắng

Xuân về…

Áo người mới nhuộm chàm xanh

Bên bếp lửa sàn

Than đầu năm hồng rực

Khẩu hiệu trên bàn thờ Tổ quốc

“Kháng chiến nhất định thành công

trường kỳ thắng lợi”.

Tiệc vào xuân

Thịt rừng bày trên lá chuối

Rượu uống sừng trâu

Tiếng hú tung “còn”

Chiêng vang vách núi

*

Nhớ một ven đồi

Hành quân tạm nghỉ

Bóc bánh chưng hậu phương

Lá dong thả trôi theo dòng suối

Hát bài ca chiến thắng đông xuân

Mắt đen em nhỏ đến gần

Vỗ tay hòa nhịp

Làng bản xa xôi vẳng tiếng khèn

Mùa xuân… Mùa xuân…

Rừng thay áo đẹp

*

Nhớ một con đường biên giới

Nằm chờ giặc qua

Mũi súng kề bên nhành cúc dại

Sương rung rinh

Nặng ý mùa thơm xanh

…Tươi tốt đang về

Tiếng chim trong bụi

Lao xao đời muông thú thanh bình

Ca ngợi bình minh vừa đến.

*

Nằm xa heo hút mà nhớ trung du

Nhớ sông Hồng chảy

Làng quê đôi bờ

Bóng những cây đào

Trên dòng phù sa

Nhớ những vườn hoa

Chèm Vẽ – Tây Hồ

Những vườn rau

Luống cày mời đất

*

Mùa xuân mong đợi mười năm

Đã về phấp phới cờ xanh

Thêu cánh hòa bình

Cờ dựng trên cổng chào

Lá dừa tươi mát

Cổng cuốn bằng rơm

Còn thơm mùa gặt

Cổng chào dựng bằng tôn sắt

Những mảnh cầu phao

Lấy trong đồn giặc ngổn ngang

Mùa xuân thức dậy đồng bằng

Mười năm ác mộng

Quê của ta:

Xuân đầu giải phóng

Sân đình đứng chật mít tinh

Chúc Cụ Hồ trường thọ

Xúng xính áo quần em nhỏ

Bắt chước văn công xòe quạt

Cây đu trên bãi lại trồng…

Thôn nữ thở hơi trầu ấm áp

Hẹn tìm nhau chiều hội đốt bông

*

Mùa xuân mong đợi mười năm

Đã về cờ xanh phấp phới

Mùa xuân đồng bằng

Lại nhớ rừng xanh

Những mùa xuân thắng lợi.

 

– Những ngày đồng bằng giải phóng, 1954 –

– Quang Dũng –

Ngô Tiến Vinh