Năm 1873, dưới lá cờ “tự do thương mại” màu mè mà thực chất chỉ là tấm bình phong che đi cái bụng tham không đáy, thực dân Pháp ngó nghiêng, ngửi ngửi rồi thò tay vào đất Bắc. Cái cớ được nặn ra gọn lỏn: “thương nhân” Jean Dupuis bị nhà Nguyễn làm khó, khiến việc buôn bán theo sông Hồng lên Vân Nam bị cản trở. Ôi thôi! “Tự do thương mại của Tây” mà gặp rào cản, là lập tức “đại nghĩa xuất sư”, cắm cờ đi dẹp… nghẽn dòng! Thế là đại úy Francis Garnier, tên phiên âm tiếng Việt khi ấy là Ngạc Nhi, từ Nam Kỳ hùng hổ rong thuyền vượt biển Đông, ngược dòng sông Hồng để tiến về Hà Nội.

Lập tức, đất Bắc Kỳ lao đao. Ngày 20/11/1873, Hà Nội thất thủ trong chớp mắt. Tổng đốc giữ thành là Nguyễn Tri Phương, một trung thần dốc hết tâm can phò vua giúp nước, bị thương nặng mà vẫn hiên ngang không chịu nhục. Cụ không cho chúng chữa trị, cũng chẳng thèm hợp tác, cứ thế mà lặng lẽ đi vào cõi vĩnh hằng ngày 20/12. Một đời làm tôi, đối đầu ngót nghét 14, 15 năm với giặc Pháp, đến phút cuối vẫn chọn đi cùng nỗi nhục nước nhà, không sống chung chiếu với giặc Lang Sa.

Thành mất, tướng tử. Quan quân tan tác, triều đình thất sắc. Pháp nhân đà thắng, liền thừa thế đánh chiếm các tỉnh lân cận như đi chợ: Hưng Yên, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định – cứ thế rơi rụng. Đất Bắc bỗng thành mớ hỗn độn. Đến mức chắc mấy tên thực dân tưởng đâu Đại Nam yếu đến mức có thể thổi một hơi là sạch.

Ấy vậy mà… ông trời có mắt, dân Nam có lòng.

Trái ngược sự bạc nhược của triều đình, người dân Bắc Kỳ, chủ yếu là văn thân, sĩ phu và dân đen áo vải, chẳng than trời hay chạy giặc. Họ đứng lên, gào thét trong cơn nhục nước mà chiến đấu. Cụ Phạm Văn Nghị ở Nam Định, 68 tuổi đời, tóc bạc phơ nhưng lòng chưa tàn, tự tay dựng cờ đánh giặc. Ở Hà Nội, người dân lén bỏ thuốc độc vào giếng, thẳng thừng không bán lương thực cho đám “mũi lõ mắt xanh”. Nói nôm na, dân ta đẩy bọn Pháp đến cái cảnh ăn không được, uống cũng chẳng xong, sặc mùi tuyệt lộ.

Thế rồi, một ngày lịch sử sáng rực như rạng đông: 21/12/1873, trận Cầu Giấy. Francis Garnier, tay Đại úy chỉ huy, biểu tượng “văn minh Pháp”, ngã xuống dưới gươm liên quân Hoàng Tá Viêm và đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc. Kẻ cầm đầu chết tươi. Tin lan như sóng thần. Toàn cõi Đại Nam dậy sóng mừng. Ấy là lúc đôi mắt dân ta ánh lên niềm tin, còn lòng quân Pháp thì rụng như sung chín trước bão.

Tưởng đâu cơ hội vàng để ta phản công, quân dân một lòng quét sạch lũ ngoại xâm. Ấy vậy mà… trời xui đất khiến thế nào, triều đình Huế bỗng nổi cơn… “từ bi”! Thay vì phất cờ xông lên, nhà vua Tự Đức lại chọn con đường nghị hòa. Nói cách khác: giặc vừa run mà ta đã… run hơn! Bao nhiêu khí thế đang độ căng tràn chợt bị hắt một gáo nước lạnh. Sĩ phu Bắc Kỳ nghe tin mà bực đến tím ruột. Trong đó có người từng cười ra nước mắt như… Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến.

Rồi thì chuyện bôi bác danh dự dân tộc xảy đến!

Để tạo bầu không khí thoải mái khi đàm phán, triều đình Huế ra chỉ dụ: tổ chức lễ truy điệu đại úy Garnier. Ủa khoan! Giặc vừa xâm lược nước mình, giết hại dân mình, chiếm đất giành thành… rồi chết trận, mà ta phải lập bàn thờ tế lễ? Chắc người đời khi đó cũng muốn hỏi: “Thế cha ông ta tử trận thì sao không tế?”

Càng nực cười hơn, Tổng đốc mới là Trần Đình Túc bèn chỉ định ngay cụ Nguyễn Khuyến làm người viết văn tế! Sĩ phu đại diện đất Bắc, Tam nguyên Yên Đổ, “ngọn bút trời cho”, “tấm lòng thương dân thương nước”: tất cả được cầm lên như cái khiên che miệng dân đời. À thì ra: triều đình vẫn biết thiên hạ đang coi cụ là tiếng nói công lý. Vậy là họ nhờ cụ viết văn tế giặc, mong dân cũng được xoa dịu?

Đời không như mơ. Họ đâu biết cụ Nguyễn Khuyến không chỉ là một nhà thơ, mà còn là bậc thầy của sự “đả kích có duyên”. Bị ép làm một việc thở hắt cũng không nổi, cụ liền lật ngược vở diễn. Ngay khi được giao văn tế, cụ bèn phớt luôn lời căn dặn văn vẻ nghiêm trang. Ai bắt phải bi ai thì cụ cười khẩy. Ai muốn chí thành cầu hòa thì cụ lại trào lộng xé tan. Thế là “Văn tế Ngạc Nhi” ra đời. Một áng văn, đầu đề tưởng như thương tiếc nhưng thực chất là câu chửi giặc vi diệu, chọc thẳng vào mặt bọn cầm quyền sợ Tây đến tái xanh mặt mày.

Văn tế mà chứa nghìn dao sắc. Mỗi câu là một nhát búa gõ vào lòng tự trọng quốc gia. Lời lẽ trào phúng, cay nghiệt, xỏ xiên đến mức khi gửi lên đọc, quan lại đều hãi hùng! Sắc bén mà thâm hiểm, cụ ví Garnier như con gà chọi, đỏ mặt tía tai mà chẳng nên cơm cháo gì, lại còn bỏ mạng giữa vùng nước lạ. Thật đau khổ thay!

Đến khi đám quan đầu triều đọc văn tế, lập tức mặt sầm như trời bão. “Cấm đọc! Cấm phổ biến!”. Nhưng nào có kịp. Bài tế lan nhanh không khác gì ánh sáng, coi như “bài thơ quốc thù”, miệng truyền tai rủa Tây còn hơn vạn lời hịch. Ôi thôi! Cấm mấy cũng không ngăn được dân gian. Cụ Nguyễn Khuyến thì tế mà thành trả thù giặc ngay trên giấy! Một trận đấu mà người thua chỉ còn đè nén bằng… cấm ngôn. Còn sử sách thì chép lại: chỉ một bài văn, mà xát muối vào nỗi nhục mất nước, cũng đồng thời xoa dịu tâm can trăm họ.

Nguyên văn bài như sau:

“Than ôi!

Một phút sa cơ, ra người thiên cổ.

Nhớ ông xưa:

Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ.

Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ.

Đít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó.

Ông đeo súng lục liên, ông đi giày có mỏ.

Ông ở bên Tây, ông sang bảo hộ.

Ông dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ.

Nào ngờ:

Nó bắt được ông, nó chặt mất sỏ.

Cái đầu ông kia, cái mình ông đó.

Khốn khổ thân ông, đù mẹ cha nó.

Tôi:

Vâng lệnh quan trên, cúng ông một cỗ.

Này chuối một buồng, này rượu một hũ.

Này xôi một mâm, này trứng một rổ.

Ông có linh thiêng, mời ông xơi hộ.

Ăn uống no say, nằm cho yên chỗ.

Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ!”

Ngô Tiến Vinh