Nhắc đến Ngô Tất Tố, ai cũng nhớ ngay đến kiệt tác“Tắt đèn”, tác phẩm đã được đưa vào chương trình phổ thông như một biểu tượng cho nỗi thống khổ của người nông dân trước cách mạng. Nhưng có mấy ai biết rằng, để có được những trang văn chân thực đến đau lòng ấy, chính bản thân ông cũng từng trải qua bao đắng cay, ngọt bùi, từng dấn thân bảo vệ tác phẩm của mình và sẵn sàng chia sẻ khổ đau với những người nông dân Đông Anh (Hà Nội) quê ông. Chính nhờ một tinh thần cương nghị ẩn trong lớp vỏ chân chất, mộc mạc mà Ngô Tất Tố đã trở thành một pho sử sống về đời người nông dân trong giai đoạn thực dân – nửa phong kiến cùng cực nhất của lịch sử dân tộc.

Thông qua người con gái Ngô Thị Thanh Lịch, mọi người mới vỡ lẽ: Hóa ra trong những năm tháng tưởng là khổ sở nhất của đất nước, gia đình ông vẫn thuộc diện có của ăn của để nhất trong làng, có ao, có ruộng chăn tằm, cấy lúa, trồng ngô. Những người phụ nữ trong nhà đều tham gia buôn bán. Nhờ vậy mà dòng họ của ông, ai nấy cũng đều được đi học một cách bài bản. Ngay đến bản thân cụ Tố còn có kinh tế để đi thi mấy kỳ Hương cơ mà! Tuy nhiên, sự có của ăn của để đó lại không hề ảnh hưởng tới nhân cách, mà trái lại, còn giúp nhà văn Ngô Tất Tố không ít lần đùm bọc cho những hoàn cảnh khó khăn trong những lúc không ngờ tới!

Đơn cử, một đêm khuya nọ, bất ngờ có người tuần đinh đến nhà báo:

– Ông Xứ (cách người làng gọi Ngô Tất Tố) ơi! Tuần bắt được thằng V. ở xóm trên ăn trộm ngô, đã đưa về đình rồi. Nó khai ăn trộm ngô nhà ông. Ông ra đánh nó một trận rồi cho nó về”.

Ngô Tất Tố nghe vậy, liền chống gậy, dắt theo các con ra đình. Lúc này ở đình, dân làng đã kéo tới rất đông để xem xử trộm. Nhưng tới nơi, thấy tên trộm bị trói gô trong một cái bao tải cùng hai sọt ngô bên cạnh, tác giả “Tắt đèn”, bất ngờ thay, đã không đánh mắng mà còn vội nói to:

– Thả người ta ra, cũng vì đói quá mới làm vậy!

Nhìn hai sọt ngô anh này vừa bẻ trộm, ông còn cười, bảo tên trộm:

– Giá hôm nay mày vớ được cái bao tải này thì mày đã chạy thoát, không bị người ta bắt!

Sau khi người làng cởi trói cho anh ta, ông Tố bảo các con ra về. Hai sọt ngô cũng cho tên trộm đó mang về.

Hay như một buổi chiều tháng Bảy mưa to, nước ngập trắng đồng. Thấy ao nhà nhiều ốc, các con thèm ăn, ông Đầu Xứ Tố liền gọi một anh trong làng chuyên mò cua bắt ốc đến giúp. Anh này đến, cuộn chiếc quần đang mặc lên đầu, lội xuống ao một lúc bắt đầy mấy giỏ ốc mang lên. Khi trả công cho anh đánh dậm, bất ngờ nhà văn lại trả rất cao. Đến nỗi một người con gái lớn của ông đã phải thắc mắc:

– Ốc của mình mà sao thầy mua đắt như ở ngoài chợ thế?

Bất ngờ nối tiếp bất ngờ, khác với tính khí điềm đạm thường ngày, ông Đầu xứ Tố đã nổi nóng hỏi ngược lại con:

– Thế tự nhiên ốc nó bò lên mồm mày à!

Rồi vẫn trả công cao cho anh đánh dậm.

 “Bố tôi dạy chúng tôi yêu quý lao động từ những việc nhỏ như vậy”, bà Thanh Lịch bồi hồi khi kể lại giai thoại này cho tạp chí Znews năm 2019.

Yêu thương người nông dân là thế, nhưng khi đối diện với cường quyền, tội ác và những hủ tục đương thời, Ngô Tất Tố lại dũng cảm đến đáng kinh ngạc. Từ năm 1936–1939, ông viết nhiều tác phẩm báo chí và văn học phê phán quyết liệt tội ác của giới thực dân, quan lại địa phương, bọn bồi bút và gian thương làm giàu trên lưng người nghèo, đặc biệt là tầng lớp nông dân. Dưới ngòi bút sắc sảo và giọng châm biếm sâu cay, những nhân vật như Nghị Quế, quan huyện, quan cụ (Tắt đèn)… hiện lên với tất cả sự bỉ ổi, xấu xa của giai cấp thống trị.

Sự phê phán, đả kích giai cấp thống trị của ông mạnh mẽ đến mức khiến giới cầm quyền thực dân “nóng con mắt bên phải, đỏ con mắt bên trái”. Năm 1935, Ngô Tất Tố bị Chánh Sở Mật thám Hà Nội gọi lên “để mua chuộc”, nhưng ông kiên quyết từ chối. Sau đó, ông nhiều lần bị cấm viết báo và bị trục xuất khỏi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Năm 1939, chính quyền thuộc địa ra lệnh cấm tác phẩm “Tắt đèn”. Nhà ông ở quê bị khám xét. Còn ông thì bị bắt giam ở Hà Nội vài tháng.

Không chỉ phê phán giai cấp thống trị, Ngô Tất Tố còn đả kích những hủ tục núp bóng dưới danh xưng “văn hóa”, “lễ nghĩa” đã “làm tình làm tội” khiến người dân “khốn khổ khốn nạn” bao đời nay. Có lần, Ngô Tất Tố đã “dạy” cho một người anh em làm chành hội ngay giữa đình vì người này đã hoạnh họe, làm khó người dân nghèo vì không nộp tiền “gia sinh”. Hay một lần khác, Ngô Tất Tố đã dám “vượt quyền”, mắng một tên lý trưởng vì hắn có thái độ khinh bỉ dân làng trong đám cỗ.

Nhưng kinh điển nhất trong “chiến dịch” chống hủ tục phải là lần ông chống lại đóng góp ở lễ đình làng. Theo lệ làng ngày ấy, những người từ 41, 42 tuổi trở lên phải thịt một con lợn 60 cân cùng một cỗ xôi để làm lễ tế ở đình. Nhưng ông thấy đó là một tục lệ không cần thiết và không phù hợp với hoàn cảnh của dân quê nên khi đến lượt mình “gánh tế đám”, ông đã lấy cớ nhà nghèo, không có điều kiện và nhất định không chịu làm. Và cứ thế, năm này qua năm khác, người ta đi theo sự “phản kháng” của cụ Ngô Tất Tố, không chịu gánh tế đám và cuối cùng, cái tục đầy phi lí, tốn kém đó phải bỏ. Bọn chức dịch, những tên “dây máu ăn phần” trong những cuộc tế lễ đầy tốn kém đó, vô cùng căm ghét ông nhưng cũng không làm gì được.

Vậy đấy! Học cao, hiểu rộng, nhưng Ngô Tất Tố không bao giờ sống tách biệt với đời như những bậc nho sĩ ẩn dật. Ông học tiếng Pháp, học viết báo, dấn thân vào đời sống hiện thực. Nhưng quan trọng và đáng quý nhất: ông chưa bao giờ tách mình khỏi người nông dân, mà còn coi họ nguồn đề tài vô tận trong hầu hết các tác phẩm văn học, phóng sự, bài báo của mình. Chính sự lựa chọn ấy đã khiến Ngô Tất Tố trở thành một trong những gương mặt tuyệt đẹp mà chúng ta có thể tự hào: Thương người nông dân từ trong truyện ông viết đến ngoài đời ông sống…

Ngô Tất Tố