Khi Cách mạng tháng Tám thành công, như một lẽ tự nhiên của một người suốt đời căm ghét cái thói đời thực dân – nửa phong kiến, Nguyễn Công Hoan nhanh chóng đứng về phía cách mạng. Từ chỗ là nhà văn “viết để vạch mặt”, ông trở thành người “viết để xây dựng”. Đất nước đổi thay, con người ông cũng bước vào một vai trò mới – cán bộ của chính quyền non trẻ, với hàng loạt cương vị mà nếu kể ra đủ thì cũng phải dài như chính những truyện ông viết. Nếu có bảng vàng ghi danh những người đặt viên gạch đầu tiên cho nền văn học cách mạng Việt Nam, thì Nguyễn Công Hoan chắc chắn nằm ở vị trí trang trọng nhất.

Thế nhưng, nói gì thì nói, cái duyên trào lộng trời cho vẫn không rời ông nửa bước. Cái dáng người nghiêm trang, cái giọng nói đĩnh đạc, và cái cách pha trò rất “công chức mà lại chẳng giống công chức” trong thời kỳ này khiến ông trở thành một vựa ký ức vui nhộn trong lòng đồng nghiệp. Cả đời viết để cười, hóa ra ngay cả khi làm cán bộ, ông cũng… khiến người khác phải cười theo!

***

Ngay những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Công Hoan hăng hái gia nhập quân đội. Lúc đầu, ông được điều về Ban biên tập báo Vệ quốc quân, được phát đủ quân trang, quân dụng, từ bộ quân phục mới tính đến khẩu súng lục sáng loáng giắt sau lưng. Theo lời nhà văn Tô Hoài kể lại, khi ấy ông Hoan vận quân phục sĩ quan mới, đội mũ ca-lô sĩ quan dạ tím có sao vành tròn. Kết hợp với dáng người cao lớn, oai vệ sẵn có, tác giả “Bước đường cùng”  làm ai cũng phải nể.

Ấy thế mà đời oai phong cũng chẳng được lâu! Vừa được phát quân trang, quân bị không bao lâu thì một hôm nọ, quân Pháp ở Hà Nội tấn công lên tận huyện Phúc Thọ cũ. Do sức yếu, lực mỏng, ông cùng nhà văn Thôi Hữu (tác giả bài thơ “Lên Cấm Sơn” nổi tiếng) buộc phải theo dân chúng bỏ chạy. Đường rút loạn, dân quân địa phương thấy một ông dáng người khác thường, mặc quân phục, đeo súng, liền nghi ngay “Việt gian giả danh”. Thế là, chẳng kịp hỏi han, họ trói ông lại, giữ giấy tờ, tra hỏi giữa đường.

Tình thế rất nguy hiểm, bởi khi ấy giặc đang đuổi tới, mà hai anh em thì không có thời giờ “điều tra thêm”. May mà rồi nhà văn cũng thoát nạn. Đến nửa đêm, ông trở về xã Đồng Lư cũ (nay thuộc xã Quốc Oai, Hà Nội). Vết trói còn lằn đỏ tay. Mũ và súng không còn nữa. Không rõ làm cách nào nhà văn thoát được, chỉ thấy ông nói:

– Từ giờ thì kệch không dám đeo súng!

Câu nói ấy, nghe tưởng bông đùa, mà hóa ra lại là lời tuyên ngôn nửa thật nửa chơi. Từ đó trở đi, người ta chỉ còn thấy Nguyễn Công Hoan làm việc ở hậu phương – trong văn hóa, tuyên truyền, chứ không ra mặt trận nữa. “Đánh giặc bằng ngòi bút” có lẽ hợp với ông hơn “đánh bằng súng”.

***

Nhưng, thú thật, Nguyễn Công Hoan chẳng hề mặn mà với quyền chức to lớn. Dù được chính anh chị em trong giới đề bạt, được trọng vọng, tính ông vẫn không thích sự gò bó. Ông từng tâm sự với bạn bè:

– Nay làm Chủ tịch một hội quan trọng, là Hội Nhà văn, tôi vui mừng sao được?

Chính vì vậy mà khi được anh em tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn, ông thường nói là ông “bị bầu làm Chủ tịch…”. Nỗi lo và buồn này lớn tới mức ông tức cảnh sinh thơ, làm mấy câu “tập Kiều”, ghi vào sổ tay của nhà thơ Mộng Sơn:

  “Trăm năm trong cõi người ta

Một là đắc hiếu, hai là đắc trung

   Giang hồ quen thói vẫy vùng

Rày xem phỏng đã cam lòng hay chưa?”

Đọc lên, ai cũng hiểu: một nhà văn quen tự do mà bắt ngồi ghế Chủ tịch, chẳng khác nào thả cá chép vào bát nước mưa. Nhưng chính trong cái “trái tính” ấy, người ta lại thấy một Nguyễn Công Hoan rất người, rất thật, vẫn trêu đùa cả chính thân phận của mình khi đứng trước mặt các anh chị em trong giới.

***

Và rồi, “người hay đùa” ấy một lần nữa gặp một chuyện trớ trêu y như trong truyện ngắn của chính ông!

Khoảng đầu những năm 1970, khi đã ngoài bảy mươi, Nguyễn Công Hoan bỗng vướng vào một vụ “mạo danh lừa tình” hi hữu. Hôm đó, cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam (bấy giờ còn ở 65 Nguyễn Du, Hà Nội) được tin báo có khách ở Gia Lâm sang. Khách gồm 2 người: Một chị công tác ở Hội Phụ nữ huyện và một bác làm thường trực UBND huyện.

Phó Tổng thư ký Hội, nhà văn Tô Hoài, được phân công ra tiếp. Và ông được bác thường trực UBND huyện thông báo rằng:

– Chị phụ nữ đây sắp lấy nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Lý do bác ta tới đây là để tìm hiểu nhà văn Nguyễn Công Hoan ấy lý lịch ra sao.

Hơi giật mình trong chốc lát, nhưng bằng sự nhạy cảm của mình, Tô Hoài tìm cách gợi chuyện để thông tỏ ngọn ngành. Quả thật, với kinh nghiệm của một nhà văn thuộc diện lão làng, chỉ vài câu khéo léo, mọi chuyện đã tỏ tường. Thì ra, ở Gia Lâm có một gã thanh niên, tuổi chưa đầy tam tuần, vốn là một tay đánh bóng bàn rất cừ khôi, mạo xưng danh tính nhà văn Nguyễn Công Hoan để lừa tình chị kia. Vụ việc đi xa tới mức chị kia đang có ý định muốn nên duyên với gã.

Quả này căng đấy! Nhưng mà, với một người đã theo nhà văn Nguyễn Công Hoan ngót nghét 40 năm có lẻ, nhà văn Tô Hoài không khó gì để có thể giúp “anh Hoan” vượt khó mà vẫn rất hài hước. Sau khi nghe ra vụ việc, nhà văn Tô Hoài lim dim mắt, nói thủng thỉnh:

– Hội Nhà văn Việt Nam không có “cậu” Nguyễn Công Hoan nào, chỉ có “cụ” Nguyễn Công Hoan. Và về tuổi thì cụ Nguyễn Công Hoan có thể… đẻ ra được tôi!

Đồng thời, nhà văn Tô Hoài khuyên nạn nhân về làm đơn kiến nghị, kèm công văn của Ủy ban Nhân dân huyện gửi tới Hội Nhà văn Việt Nam. Trên cơ sở đó, Hội Nhà văn sẽ có kế hoạch khởi kiện cậu kia ra tòa. Song không biết vì lý do gì mà khi hai người khách kia cáo lui, mãi vẫn không thấy ai quay trở lại.

Sau khi chuyện được giải quyết êm xuôi, Tô Hoài đã về kể lại câu chuyện trên với gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan. Đồng thời còn nói thêm rằng, ông để ý sau câu trả lời của ông “sắc mặt cô gái chuyển sang tái ngắt”.

 ***

Những chuyện như thế, quanh Nguyễn Công Hoan nhiều vô kể. Cái cách ông bước qua cuộc đời, từ nhà văn, người lính, cán bộ, đến biểu tượng trào phúng, đều có cùng một nhịp cười tự trào, tự tại. Có lẽ chính vì vậy, người đời mới nói: Nguyễn Công Hoan không chỉ viết truyện trào phúng, mà sống cả một đời trào phúng.

Với ông, làm văn hay làm cán bộ cũng vậy thôi, miễn còn được vui cười mà sống, sống mà vẫn vui cười, thì đời đã là một trường ca thú vị rồi.

Ngô Tiến Vinh