Sinh ra thay vì khóc thì lại cười lớn, đời có mấy ai ngạo nghễ như Nguyễn Công Trứ! Cả một sự nghiệp chốn quan trường, bị thăng, giáng liên tục vì đủ các lý do, nhưng tài năng cùng với tấm lòng vi dân vì nước, chưa bao giờ tư lợi cá nhân hay chống đối triều đình, lúc nào cũng luôn rực sáng trong cụ. Tới mức “Đại Nam chính biên liệt truyện” cũng phải vừa khen, vừa phê bình:
“Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, khí hào mại, phổ đầy ở trong âm luật, đến nay hãy còn truyền tụng, Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi lại được cất nhắc lên ngay: tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập công được chiến trận. Buổi đầu Trứ lãnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy, trải hơn mười năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật…”.
Cũng bởi vì tính cách như vậy mà cuộc đời của cụ cũng trở thành một trong những “vựa muối” kinh điển của giới Nho lâm Việt Nam. Trong số đó, một giai thoại được đánh giá là kinh điển nhất, nhưng cũng bị nghi ngờ là do nhân dân “tạc bia miệng” từ những sự thật lịch sử, chính là ngày quyết định từ quan về ở ẩn.
Thực tế, từ năm 1847, khi đã ở tuổi 69, cụ Thượng Trứ đã có lần xin treo ấn từ quan về quê cha Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Nhưng phần vì nể trọng tài năng, phần vì cụ là nguyên lão, gắn bó gần như thành pho sử sống về tiên đế Minh Mạng, nên vua Thiệu Trị không cho. Nhưng cũng chỉ ít lâu sau, ngày 27/9 năm Đinh Mùi (tức 4/11/1847), vua Thiệu Trị băng hà. Hoàng tử Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên ngôi, lấy niên hiệu Tự Đức. Lúc này, cụ Thượng mới chính thức được chấp thuận hồi hưu. Năm ấy là 1848, khi cụ vừa tròn 70 tuổi.
Và bây giờ, tấn bi hài kịch mới bắt đầu!
Ngày “nhận sổ hưu” với 170 quan tiền, Nguyễn Công Trứ liền rầm rộ tổ chức một bữa tiệc chia tay bạn bè, đồng liêu trên dưới. Gia nhân tấp nập mượn nhà, mua sắm lễ vật, cơm rượu đề huề, và chó, thật nhiều chó, những 40 con chó đủ loại sắc thể. Các quan khách kéo đến rất đông, ngửi mùi cầy chế biến thơm lừng, chỗ này chỗ kia dậy tiếng trầm trồ to nhỏ:
– Ôi, thịt chó, chó, nhiều quá.
Dường như chỉ chờ có vậy, cụ Thượng hưu đứng dậy vuốt râu dõng dạc và chỉ quanh khắp lượt nói:
– Dạ thưa, đúng như vậy đấy ạ. Đúng là trên dưới, trong ngoài, lớn bé, tất cả đều là CHÓ hết cả ạ!!!
Ngoài giai thoại “bữa tiệc thịt chó”, dân gian còn lưu truyền thêm một chuyện khác nối vào sau câu chuyện ở trên, có phần thâm cay và cũng có thể là sáng tác của hậu nhân, vì Hà Tôn Quyền, vị đại thần sắp được nhắc đến, đã mất từ năm 1839. Song câu chuyện ấy vẫn được kể mãi, như một minh chứng cho cái ngạo nghễ, thâm thúy của Nguyễn Công Trứ, cùng với sự hiểm độc chốn quan trường.
Hôm rời khỏi kinh đô, cụ sắm ngay một cỗ xe, cho một con bò vàng giống cái kéo thay ngựa, dạo chơi khắp kinh thành Huế. Thiên hạ thấy chuyện lạ mắt, đổ xô ra xem: Một ông lão đầu râu tóc bạc, mặc y phục như một kép tuồng, ngồi khiển một chiếc xe do một con bò cái đủng đỉnh kéo đi giữa phố phường, phía sau đít con bò lại buộc một tấm mo cau, để 4 câu thơ:
“Xuống ngựa lên xe nọ tưởng nhàn
Lợm mùi giáng chức với thăng quan
Điền viên dạo chiếc xe bò kéo
Sẵn tấm mo che miệng thế gian!”
Cỗ xe đủng đỉnh đi qua trước nhà Hà Tôn Quyền – một viên đại thần tuy có tài, nhưng cũng hay gièm pha, đàn hặc Nguyễn Công Trứ khiến cụ nhiều phen thất điên bát đảo. Nghe tiếng người ồn ào như chợ vỡ, Hà Tôn Quyền lật đật ra xem. Chứng kiến tấn tuồng của Nguyễn Công Trứ và bài thơ, ông điếng người như vừa ăn một cái tát Trời giáng: Đích là cụ Thượng Trứ đã coi cái mồm của mình không khác gì… cửa sau của con bò cái!
Chuyện đến tai Triều đình, ai cũng tưởng cụ bất đắc chí quá hóa… tâm thần rồi(!), nên đã làm một bữa đại tiệc chia tay để an ủi nhưng cụ cũng từ chối, không trở lại kinh để thụ hưởng.
Tương truyền rằng đến khi về quê, cụ còn làm một bài khác để buộc vào đít con bò. Có người còn nhớ được 2 câu đại loại như sau:
“Miệng thế khó đem bưng nó lại.
Lòng mình chưa dễ bóc ai coi.”
Thiên hạ thấy vậy lại đua nhau bàn tán. Kẻ bảo Cụ chán đời. Người bảo Cụ ngạo nghễ. Về phần cụ, những năm cuối đời ấy, cụ cứ chỉ ngất ngưởng cười, phiêu du đó đây, nghêu ngao thơ, khoái chí lại ngả chiếu làm bài ca trù. Cứ thế, nhẹ nhàng mà êm ả, cụ bất tận chơi mà chẳng bận lòng về bất cứ những thất tình lục dục nào của thiên hạ xung quanh nữa…
Ngô Tiến Vinh





