Trong ký ức văn hóa Việt, Tết không chỉ là thời khắc chuyển mùa, mà còn là lúc đạo lý hiện hình rõ nhất. Người ta đem ra cân đo nhân nghĩa, soi thử lòng người, và đối diện với chính mình. Với Nguyễn Khuyến, Tết nằm trong từng câu đối treo trước hiên nhà, trong cách đối nhân xử thế, trong tiếng cười trào phúng mà chan chứa nỗi ưu thời mẫn thế.
Nguyễn Khuyến đón Tết bằng chữ. Nhưng đó không phải thứ chữ phù hoa, mà là chữ thấm mồ hôi, chữ đi cùng phận người. Mỗi câu đối Tết ông để lại, cho học trò nghèo, cho người buôn thịt, hay cho chính bản thân mình, đều là một lát cắt của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX: nơi đạo lý cũ lung lay, danh lợi trỗi dậy, và con người đứng giữa ngã ba Chân – Thiện – Mỹ đầy chông chênh.
***
Cũng là lễ học trò mang đến nhân dịp “mồng ba Tết thầy”. Nhưng có món lễ tuy đơn sơ mà ông nâng niu như báu vật, trong khi mâm cao cỗ đầy lại khiến ông dửng dưng, thậm chí buồn bực. Điều ấy, hóa ra, không hề vô lý.
Có lẽ cái Tết đẹp nhất trong đời Nguyễn Khuyến không nằm ở mâm cỗ, mà nằm trong ba quả bưởi của một người học trò nghèo mang đến biếu thầy để thờ Tết. Ba quả bưởi, món quà nhỏ nhoi, nhưng chứa đựng lòng kính trọng và niềm tin vào chữ nghĩa.
Nguyễn Khuyến hiểu điều đó. Vì ông cũng nghèo, chẳng có gì vật chất để đáp đền tương xứng. Và ông trả lễ bằng chữ, bằng một câu đối mà chỉ cần xướng lên, người học trò đã mang về cả một mùa xuân tinh thần:
“Ủa! Tết đến đó rồi, chẳng lẽ giơ cùi cùng tuế nguyệt
Kìa! Xuân sang đấy nhỉ, phen này mở múi với giang sơn.”
Chữ nghĩa ở đây vừa hóm hỉnh, vừa sâu sắc. “Giơ cùi cùng tuế nguyệt”, cái nghèo không thể là số phận vĩnh viễn. “Mở múi với giang sơn”, chỉ cần có xuân, có chí, thì tương lai vẫn còn nguyên phía trước. Câu đối ấy không chỉ là lời chúc Tết, mà là cách thầy trao hy vọng cho trò bằng chữ.
Ngược lại, không phải cái Tết nào cũng mang lại niềm vui cho Nguyễn Khuyến. Càng về cuối đời, ông càng chứng kiến rõ sự tàn lụi của đạo lý Nho gia trong xã hội thuộc địa – nửa phong kiến. Tâm trạng ấy kết tinh trong những câu đối trào phúng mang sắc thái vừa thương vừa giận, một cảm xúc rất Nguyễn Khuyến:
“Hay thật là hay đáo để! Bảo một đàng quàng một nẻo;
Thôi thế thời thôi cũng được! Phi đằng nọ tắc đằng kia.”
Đó là tiếng cười cay đắng dành cho những học trò cũ quay lưng với lời thầy, với đạo nghĩa, để chạy theo danh lợi. Năm hết Tết đến, họ mang rượu Tây, mứt ngoại, mâm cao cỗ đầy đến biếu thầy. Nhưng Nguyễn Khuyến thà giả thong manh, giả nghễnh ngãng, không muốn nhìn. Chỉ khi bị cầm tay dẫn đến mâm lễ, ông mới bật ra câu đối như một nhát cười lạnh mà thấm sâu.
Không mắng nhiếc trực diện, không đao to búa lớn, chỉ bằng thành ngữ dân gian “Bảo một đàng quàng một nẻo”, “Phi đằng nọ tắc đằng kia”, ông lột trần sự tha hóa của con người trong thời loạn. Xuân đến, mà lòng người đã nguội lạnh trước vận mệnh dân tộc.
***
Nếu với kẻ chạy theo danh lợi, Nguyễn Khuyến châm biếm đến sắc lạnh, thì với người lao động nghèo, câu đối Tết của ông lại thấm đẫm nhân tình. Ông dành hẳn một gia tài chữ nghĩa cho họ, những con người lam lũ, ít khi bước vào văn chương.
Ở gần nơi ông sống có một gia đình hàng thịt. Chồng mất sớm, người vợ trẻ bơ vơ giữa đời, lại rơi đúng vào buổi xã hội thực dân – nửa phong kiến đầy bất trắc. Nhưng chị không buông xuôi. Chị nối nghề chồng, bền bỉ làm ăn, và rồi dần dần gây dựng được cuộc sống. Chứng kiến trọn vẹn hành trình ấy, nhân ngày giáp Tết, khi chị mang biếu người hàng xóm đáng kính đôi bầu dục và bát tiết canh lợn, cụ Tam Nguyên liền ứng tác:
“Tứ thời bát tiết canh chung thủy
Ngạn liễu, đôi bồ dục điểm trang.”
Dịch nghĩa:
“Bốn mùa, tám tiết bền chung thủy
Dặm liễu, gò bồ muốn điểm trang.”
Một mặt là chữ Hán nhã nhặn, một mặt là cách đọc Nôm rất đời. Tết ở đây không cần sang trọng, chỉ cần tử tế. Cái hay của Nguyễn Khuyến chính là ở chỗ ấy: chữ nghĩa không đứng trên đời sống, mà đi cùng mồ hôi người lao động.
***
Nguyễn Khuyến cũng không ngại tự cười mình, cười đời trong những câu đối mang màu sắc Lão Trang:
“Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo.”
Pháo nổ, rượu say, những trò vui ngày Tết dưới mắt nhà nho tỉnh táo. Nhưng rốt cuộc, ai mới là kẻ dại, ai mới là người khôn? Chó – mèo đối nhau tinh tế, tạo nên một cái nhìn vừa mỉa mai, vừa bao dung với đời sống dân gian.
Ngay cả khi viết cho chính mình, Nguyễn Khuyến vẫn giữ giọng tự trào. Dạy học làng quê, cuối năm phụ huynh đến nộp tiền, ông viết, vừa hài hước mà vừa tinh:
“Hàng ngày mổ bụng con nhét chữ
Cuối năm bổ đầu bố lấy tiền.”
Tiếng cười bật ra, nhưng phía sau là nỗi chua xót về thân phận người thầy, về cảnh sống thanh bần của một nhà nho giữ khí tiết giữa thời đạo lý đảo điên.
Cũng vào một dịp xuân, khi cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã cáo quan về làng, mở lớp dạy trẻ, bạn bè khắp nơi rủ nhau về thăm, rượu xuân bày ra giữa cuộc hội ngộ làng quê. Trong men say đầu năm, Nguyễn Khuyến bỗng nổi hứng ứng tác một đôi câu đối Nôm khá dài, vừa tự trào, vừa như phác họa trọn vẹn đời sống Tết của mình nơi thôn dã:
“Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào bàn ba, tiền làm sao, gạo làm sao, đóng góp làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nhìn thầy đà nhẵn mặt.
Già chẳng già với trẻ, đàn tiểu tử lau nhau đứng trước, này phú, này thơ, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, điểm khuyên là thế, ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoắt, con mắt gà đeo kính đã mòn tai.”
Vế trên là Nguyễn Khuyến trong vai người làng ngày Tết: ngồi chiếu giữa đình, lo việc hương thôn, chuyện tiền gạo, chuyện đóng góp, chuyện cỗ bàn, lộc làng. Tất cả hiện lên vừa rộn ràng, vừa buồn cười, qua cái nhìn thong dong của một người đã rũ sạch áo mũ quan trường để sống trọn với nhịp điệu xuân quê. Vế dưới là Nguyễn Khuyến của lớp học đầu năm: hòa mình với đám trẻ, dạy từng bài phú, câu thơ, chấm từng dấu bằng trắc, để rồi thời gian trôi nhanh đến mức mắt mờ, kính mòn lúc nào không hay.
Hai vế đối ghép lại thành một bức tranh Tết rất Việt Nam thuở xưa: có đình làng, có mâm cỗ, có lớp học, có tiếng cười, và có dấu vết năm tháng in hằn lên người thầy già. Không cần lời chúc, không cần triết lý lớn, chỉ bằng mấy câu Nôm xuân, Nguyễn Khuyến đã để lại một cái Tết vừa hóm hỉnh, vừa lặng lẽ, vừa thấm sâu vào đời sống dân gian, nơi ông chọn ở lại đến cuối đời.
***
Kho tàng câu đối Tết của Nguyễn Khuyến vì thế không chỉ là đỉnh cao nghệ thuật Hán Nôm, mà còn là một bản ghi chép đạo lý bằng chữ nghĩa. Ở đó, Tết không nằm trong mâm cao cỗ đầy, mà nằm trong cách con người đối đãi với nhau. Xuân không chỉ ở pháo nổ rượu say, mà ở chỗ lòng người còn giữ được nhân nghĩa.
Đọc lại những câu đối ấy hôm nay, giữa một cái Tết đủ đầy hơn, ta chợt hiểu: Nguyễn Khuyến không chỉ đón Tết cho riêng mình. Ông đón Tết cho chữ nghĩa, cho đạo lý, và cho những phận người bé nhỏ trong cơn bão lịch sử. Và chính vì thế, những câu đối Tết ấy đã vượt qua thời gian, để mỗi độ xuân về, vẫn còn âm vang đâu đó trong ký ức văn hóa Việt.
Ngô Tiến Vinh





