Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX có một điều rất lạ: những cuộc xung đột gay gắt và cay đắng nhất đôi khi không diễn ra trên chiến trường, cũng chẳng nằm trong những bản tấu chương đầy dấu son, mà lại gói gọn trong vài câu thơ, một vế đối treo lơ lửng hay bên cột nhà, hay thậm chí là… một cây nêu, một chuyến dạo bếp đúng ngày ông Công ông Táo. Ở đó, không có gươm đao, không có binh lính, nhưng mỗi chữ rơi xuống đều đủ sức khiến người ta tái mặt.

Nguyễn Khuyến và Hoàng Cao Khải gặp nhau trong hoàn cảnh như thế!

Một người là Tam Nguyên Yên Đổ, biểu tượng cuối mùa của tầng lớp sĩ phu Nho học, đỗ đạt cao, từng làm quan. Nhưng rồi, với con mắt ưu thời mẫn thế, ông cũng sớm nhìn ra thế cục tất bại của một trật tự cũ đang rạn nứt. Đau đời chẳng cứu nổi đời, đành cáo quan về ở ẩn, sống giữa ao thu, ngõ trúc, cá chép và những bài thơ tưởng như nhàn tản mà thực ra đầy u uẩn…

Một người là Hoàng Cao Khải – Kinh lược sứ Bắc Kỳ, nhân vật tiêu biểu cho lớp quan lại “gặp thời”, nương theo Pháp để leo lên đỉnh quyền lực, phủ đệ nguy nga, quyền thế lẫy lừng, kẻ dưới nịnh hót, kẻ trên chống lưng…

Hai người ấy, nếu xét về địa vị xã hội, vốn chẳng có lý do gì để đối đầu. Một kẻ đã từ quan, không binh quyền, không chức tước, về quê làm dân thường, áo vá, cơm cà, suốt ngày làm bạn với cái thuyền bé tẻo teo, chiếc cần câu và mấy con cá rô gầy. Một kẻ đang ở đỉnh cao quyền lực, kẻ hầu người hạ, Pháp bảo kê, quan Nam cúi đầu…

Nhưng lịch sử lại rất thích bày ra những cuộc chạm trán tréo ngoe, nơi kẻ yếu thế nhất lại là người khiến đối phương khó chịu nhất!

***

Tục truyền rằng, Nguyễn Khuyến có một cái “tội” rất lớn trong mắt người Pháp.  Không phải vì cụ có ý định khởi nghĩa, cũng chẳng vì cụ có vây cánh chính trị. Cái “tội” ở đây là được dân yêu, sĩ phu trọng, lời nói có trọng lượng. Ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ, một ông đồ mà đi đến đâu cũng được kính nể, nhắc tên là người ta gật đầu, thì tự thân đã là một mối nguy tiềm tàng. Trong bối cảnh Bắc Kỳ vừa bị đặt dưới ách bảo hộ, mọi mầm mống có khả năng kết nối sĩ phu và quần chúng đều khiến chính quyền thực dân phải dè chừng.

Giải pháp được đưa ra khá “nhân văn”: mời Nguyễn Khuyến về Hà Nội, làm gia sư trong dinh Hoàng Cao Khải. Vừa tỏ ra trọng dụng nhân tài, vừa đặt cụ vào vị trí dễ kiểm soát. Một mũi tên bắn hai con chim, rất đúng phong cách hành chính thuộc địa.

Nguyễn Khuyến biết thừa ý đồ này. Nhưng cụ cũng hiểu rằng, trong hoàn cảnh ấy, từ chối không hẳn là giữ khí tiết, mà rất có thể là tự chuốc lấy tai ương. Thế là cụ rời Yên Đổ, lên Hà Nội, dạy học trong phủ của một kẻ mà cụ khinh bỉ tận xương tủy.

Từ đó, một chuỗi va chạm không tiếng súng, nhưng chữ nghĩa thì sắc hơn dao, đã bắt đầu…

***

Khoảng cuối thập niên 1890, Hoàng Cao Khải mở tiệc lớn mừng con trai thứ hai là Hoàng Mạnh Trí vừa đỗ tú tài Tây bên Pháp trở về. Buổi tiệc quy tụ đủ mặt sĩ phu, khoa bảng Bắc Hà. Người đến vì nể, kẻ đến vì sợ, người đến vì muốn giữ chút đường lui cho tương lai. Rượu vào, lời ra, Hoàng Cao Khải cao hứng ra đề cho mọi người làm thơ:

“Thiên hà ngôn tại?”

(Dịch nghĩa: Trời có nói gì đâu!)

Một đề bài tưởng như vô thưởng vô phạt, nhưng trong bối cảnh ấy, lại là cái bẫy ngôn từ vô cùng thú vị. Người làm thơ thì kẻ nịnh khéo, kẻ mỉa kín, kẻ nói nước đôi, sao cho vừa không đụng chạm, vừa tỏ ra có học. Ai cũng có thơ. Chỉ riêng Nguyễn Khuyến là im lặng.

Hoàng Cao Khải thấy thế thì sốt ruột. Một bữa tiệc mà Tam Nguyên Yên Đổ ngồi như hến thì còn gì là vui. Ông ta giục. Và chính cái giục ấy là sai lầm.

Nguyễn Khuyến đứng dậy, ứng tác ngay một bài thơ, đặt tên thẳng là “Trời nói”:

“Chót vót trên này có một tao!

Nào tao có muốn nói đâu nào!

Da tao xanh ngắt, pha đen trắng,

Chỉ tại dì Oa vá váy vào!”

Không cần giảng giải, ai ngồi trong tiệc cũng hiểu. “Trời” ở đây sao lại là một thực thể bị chắp vá, xanh đen trắng lẫn lộn, như chính xã hội thuộc địa nửa mùa lúc bấy giờ? Xong rồi lại còn cái mô tả, “Chót vót trên này có một tao”, “da xanh ngắt, pha đen trắng”, đặt vào bối cảnh thời đại ấy, đây chẳng phải là ngầm tả về hành động “Giải quyết nỗi buồn lớn lao” hay sao? Rõ ràng, đó không phải là lời cảm thán vu vơ, mà là một cú đâm thẳng vào hiện thực nhà họ Hoàng.

Chưa kịp định thần, Nguyễn Khuyến bồi thêm bài “Trời nói II”:

“Cao cao muôn trượng ấy là tao,

Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào.

Nhắn nhủ dưới trần cho chúng biết,

Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào.”

Lần này thì cay thật! “Trời” vừa xa, vừa bất cần, vừa lạnh lùng, nhắn nhủ một cách trêu ngươi rằng mưa nắng là chuyện của tao, dưới trần đừng tưởng mình kiểm soát được gì!

Hoàng Cao Khải lần này tái mặt, nhưng trước mặt đông đủ sĩ phu, đụng vào Nguyễn Khuyến lúc ấy chẳng khác nào tự làm xấu mặt mình. Thế là đành cười gượng, nuốt giận…

***

Tưởng chuyện đã qua, nhưng Nguyễn Khuyến không phải kiểu người chỉ mỉa mai cho vui. Cụ nhớ rất dai. Nên còn bồi thêm một cú đánh nữa khi giáp Tết.

Một năm nọ, rằm tháng Chạp, Nguyễn Khuyến xin về quê ăn Tết. Hoàng Cao Khải, vẫn giữ vẻ thân tình, báo rằng sẽ ghé thăm nhà cụ khi đi công cán ngang Hà Nam. Ngày đến đúng 23 tháng Chạp, ngày ông Công ông Táo chầu trời.

Thế là cụ Tam Nguyên giăng bẫy!

Đúng 23 tháng Chạp, Hoàng Cao Khải và tùy tùng khi vừa vào trong “ngõ trúc quanh co”, đứng trước cổng “Môn Tử Môn” của “Vườn Bùi chốn cũ” thì thấy nhà cụ Tam Nguyên đã trồng một cây nêu cao thật cao, treo trên một chiếc đèn lồng và một vế câu đối:

 “Kiết kiết can mao, tiết đáo kinh thiên phù nhật nguyệt”

(Dịch nghĩa: Chót vót cờ mao, tết đến chống trời phò nhật nguyệt)

Câu này nghĩa đen nói về cây nêu cao có treo đèn. Nghĩa bóng là một lời tự khẳng định khí tiết của chủ nhân.

Hoàng Cao Khải đọc, tấm tắc khen hay, nhưng thấy chỉ có một vế thì lấy làm lạ, nài nỉ Nguyễn Khuyến viết nốt vế thứ hai. Nguyễn Khuyến mỉm cười, không đáp ngay, mà dẫn thẳng Hoàng Cao Khải… vào bếp.

Ngay cạnh mấy ông đầu rau bằng đất mới nặn – Táo quân – là vế đối còn lại:

“Mang mang khối thổ, thời lai tảo địa tác quân vương”

(Dịch nghĩa: Mênh mông khối đất, gặp thời quét rác cũng làm vua)

Ai hiểu thì hiểu. Mà trong bếp lúc ấy, chắc không ai không hiểu. Nghĩa đen là nói Táo quân bằng đất. Nghĩa bóng thì đốp thẳng: kẻ như cục đất, nhờ thời thế, nương vào ngoại bang mà lên làm “vua bếp”, chứ bản chất chẳng có gì!

Hoàng Cao Khải đọc xong, tái mặt. Nhưng vẫn như mọi lần, ông ta không thể làm gì vì giữ thể diện quan lớn trước cụ Nguyễn Khuyến, vốn đã từ quan về ở ẩn từ lâu, không khác gì hạng bạch đinh. Một kẻ quyền cao chức trọng lại bị dồn vào thế câm lặng trước một ông đồ đã từ quan, thật là trớ trêu.

***

Nguyễn Khuyến không lật đổ được Hoàng Cao Khải. Cụ cũng không thay đổi được dòng chảy lịch sử. Nhưng cụ để lại một bài học rất đắt: trong thời suy vi, trí thức không nhất thiết phải thắng, chỉ cần không chịu nhục. Cuộc đối đầu ấy kéo dài từ ngày thường đến tận giáp Tết, từ bữa tiệc rượu đến gian bếp, từ thơ đến câu đối. Không ồn ào, không máu đổ, nhưng mỗi chữ đều có trọng lượng.

Có lẽ vì thế mà mỗi khi đến Tết, đọc lại giai thoại này, người ta không chỉ thấy thú vị, mà còn thấy lạnh sống lưng. Bởi giữa mâm cỗ, bếp lửa và cây nêu, vẫn thấp thoáng bóng dáng của một trí thức biết cười, biết mỉa, và biết giữ mình trong một thời đại mà cúi đầu có khi lại dễ sống hơn ngẩng cao đầu rất nhiều.

Ngô Tiến Vinh