Không phải ai đón Tết cũng theo những biểu thức quen thuộc: hoa đào, bánh chưng xanh, pháo giao thừa… Với nhà văn Nguyên Hồng, Tết mang những lớp nghĩa khác hẳn: đó là những ngày bận rộn đến ngạt thở, là tình người san sẻ giữa đời thường, là nỗi lo mưu sinh hòa lẫn niềm vui sum họp, và là ký ức văn chương khắc sâu suốt một đời người.

Nguyên Hồng, cây bút của những phận đời cần lao, không chỉ viết về họ bằng cảm thông, mà sống đúng như những gì ông viết. Điều đó hiện rõ nhất trong những trang nhật ký Tết: nơi giao thừa không đến bằng rượu ngon mâm cao, mà bằng mồ hôi, khói bếp, nồi bánh chưng sôi lục bục suốt đêm, và những trăn trở rất đời của một người đàn ông gánh trên vai gia đình đông con cùng nghiệp viết không thể buông.

***

Năm 1959, ở tuổi bốn mươi, Nguyên Hồng đưa ra một quyết định bước ngoặt: đưa cả gia đình rời Hà Nội về vùng núi rừng Yên Thế (Bắc Giang cũ). Khi ấy, gia đình ông có mẹ già và năm người con nhỏ. Rời thành phố đồng nghĩa với việc từ bỏ trợ cấp, chấp nhận quay lại cuộc mưu sinh khắc nghiệt mà ông từng trải qua thời niên thiếu.

Bà Thanh Thư, ái nữ của nhà văn, nhớ lại với báo Công An Nhân Dân năm 2021:

“Mẹ tôi kể là khi cha tôi quyết định bỏ Hà Nội về ấp Cầu Đen, mẹ tôi không đồng ý. Hai ông bà đã cãi nhau một trận. Nhưng rồi mẹ tôi vẫn chiều theo ý cha tôi. Có thể lúc ấy bà không biết rằng mình đang bước chân vào chặng đường mới, vất vả, túng thiếu, gian nan khủng khiếp như thế nào…”

Những khó khăn ấy được tác giả của “Những ngày thơ ấu” ghi lại trần trụi trong nhật ký: những ngày đầu dựng nhà, bán mua đồ đạc, chạy vạy từng đồng, trong khi việc viết vẫn không thể dừng bởi bộ tiểu thuyết “Cửa biển” đang dang dở. Ngày 2/1/1962, tết dương lịch, ông ghi trong nhật ký với đầy trăn trở:

“Tôi dậy sớm, đun nước rồi rang cơm cho các con. Nhà tôi nằm ôm cái Thế. Cái Nhã đã dậy, to hó trong chăn nhìn ra. Số tiền 500 đồng nhà tôi giữ còn được 40 đồng. Tôi đưa thêm 21 đồng để giả tiền nứa và công đan. Tháng trước nhà tôi đã uống thuốc Bắc. Tháng này uống sâm và hai lọ Hà sa đại tảo hoàn. Tôi ra đi, hôn các con mà lòng nặng trĩu. Có thể Tết tôi không về”.

Đó là một buổi sáng rất thường, nhưng chứa đủ nỗi lo của một người cha, một người chồng, và một người viết đang đứng trước cái Tết trong cảnh thiếu thốn.

Nhưng rồi Tết Nguyên Đán năm ấy, ông vẫn về. Không chỉ để sum họp, mà để mang Tết về nhà.

Ngày 30 Tết Nhâm Dần 1962, Nguyên Hồng cùng xóm làng giết lợn, chia phần cho hàng xóm, gói bánh chưng đến chiều, rồi luộc bánh giữa nhà đến tận bốn giờ sáng. Giao thừa đi qua trong khói bếp, trong mệt mỏi, và trong những suy nghĩ không nguôi. Ông ghi lại:

“Năm nay tôi đã in xong “Sóng gầm”. Nhưng lại thêm bao nhiêu nỗi lo mới. Nhất là lo vì sự sống. Các con càng đông, ăn tiêu trong nhà tốn quá. Sang năm, tôi phải sắp xếp việc nhà và dè sẻn hơn nữa”.

Đó là một cái Tết vừa đủ đầy nghĩa tình, vừa thiếu thốn vật chất, rất đúng với con người Nguyên Hồng.

***

Những cái Tết sau đó, cái nào cũng mang một dáng vẻ riêng, nhưng đều có chung một nền: túng thiếu mà ấm áp.

Tết Quý Mão 1963 là một cái Tết “nhớ đời”. Lương tháng chỉ 70 đồng, phần lớn gửi về cho vợ sắp sinh. Muốn vay thêm tiền cũng khó khi hỏi từ nhà thơ Hoàng Trung Thông đến nhà văn Nguyễn Hoàng mà cũng chẳng được là bao. Trước Tết ít ngày, vợ ông sinh người con thứ bảy. Vừa đón con, vừa đón Tết. Ngày 25 tháng Chạp ông mới về đến nhà.

Ngày 28, Nguyên Hồng vẫn cặm cụi hoàn thiện truyện thiếu nhi “Con hùm con bồ côi”. Nhưng Tết đã gõ cửa. Tạm gác bút lại, ông xin được một cành mận trắng, con trai xin cành đào. Những cành hoa ấy không chỉ để trang trí, mà như một cách giữ lại cảm giác Tết trong cảnh thiếu thốn.

Mỗi người trong nhà đón Tết theo cách riêng: con cái đi chơi, đi chọi gà; Nguyên Hồng sang nhà hàng xóm ăn cơm, rồi đi chúc Tết cả xóm. Những ngày sau Tết, nắng gắt, bụi đỏ, ao hồ cạn nước, nhưng không khí xuân vẫn còn. Bạn bè văn nghệ lên chơi, nhạc sĩ Đỗ Nhuận chụp ảnh cho cả xóm. Ban ngày vui xuân, ban tối Nguyên Hồng lại trở về với trang giấy. Với ông, Tết chưa bao giờ tách khỏi việc viết.

***

Có cái Tết lại mang dáng dấp trớ trêu. Tết Kỷ Dậu 1969, gạo nếp mua về gói bánh thì phát hiện bị trộn gạo tẻ. Cả nhà phải đi vay thêm gạo hàng xóm. Nhưng rồi bánh vẫn gói, Tết vẫn đến. Đặc biệt, trong những ngày ấy, ông nhận được món quà bất ngờ: Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi tặng 200 đồng và lời chúc sức khỏe.

Nhật ký Tết năm ấy đầy ắp những việc rất “đời”: sửa cửa bếp, chặt tre, lo củi, lo thuốc cho vợ hen, nấu khoai khuya, dặn con cái phải biết vun vén, chia sẻ với nhau thành quả mồ hôi nước mắt. Xen giữa đó là những dòng viết văn đều đặn, bền bỉ, một thói quen sống.

Tết năm 1970, Nguyên Hồng đem tặng hàng xóm thân thiết chiếc áo bông Trung Quốc, món quà ông được tặng khi đi chữa bệnh. Trong nhật ký, ông ghi lại từng chi tiết nhỏ: con cái có áo mới, tranh gà lợn dán tường, bánh chưng luộc xong chiều 30. Và đúng giao thừa:

“Trên nhà ồn ào các chuyện và nhạc đài. Đúng 12 giờ, các pháo lệnh, súng và pháo đùng, pháo bánh nổ ran…”.

***

Nhìn lại, những cái Tết của Nguyên Hồng quả thực là “có một không hai”. Không rực rỡ, không đủ đầy vật chất, nhưng đậm đặc tình người. Ở đó, có mồ hôi lao động, có nỗi lo cơm áo, có tình xóm giềng, có tiếng trẻ thơ, và có những trang viết được thai nghén ngay giữa đời sống thật.

Với Nguyên Hồng, Tết không chỉ là một mốc thời gian, mà là một không gian đạo đức: nơi con người phải sống tử tế với nhau, phải biết chia sẻ, biết gánh vác, và biết giữ lấy những giá trị căn bản nhất của đời sống gia đình.

Ông mang nặng ơn nghĩa cuộc đời, và trả ơn bằng văn chương. Những cái Tết nghèo ấy, suy cho cùng, chính là mảnh đất nuôi dưỡng nên những trang viết giàu nhân ái, bền bỉ và sâu sắc của Nguyên Hồng. Đọc lại những cái Tết ấy hôm nay, giữa nhịp sống đủ đầy hơn, ta chợt hiểu:

Tết không chỉ là mâm cao cỗ đầy, mà là cách con người ở bên nhau, trong khó khăn vẫn giữ được hơi ấm, giữ được lòng tin, và giữ được những điều tử tế nhất.

Ngô Tiến Vinh