Trong dòng chảy của lịch sử văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, có những người phụ nữ mà tên tuổi và tầm vóc của họ in hằn trong nhân cách của những vĩ nhân. Cụ Sầm Phố chính là một người như thế. Cuộc đời bà là một gạch nối kỳ diệu giữa ánh hoàng hôn của Nho học và bình minh của tư tưởng khai phóng, một người đàn bà đã dùng cả cuộc đời để “chạm khắc” nên những tượng đài trí tuệ cho dân tộc. ​ ​

Cụ Sầm Phố, tên thật là Nguyễn Thị Đào, sinh năm 1885 tại vùng đất học Nam Đàn, Nghệ An. Bà sinh ra đúng vào thời điểm mà xã hội phong kiến Việt Nam đang rạn nứt dữ dội, đó là lúc những giá trị cũ của cửa Khổng sân Trình bắt đầu lung lay trước làn sóng Tây học, và tiếng súng của thực dân Pháp đã vang lên khắp cõi Nam kỳ. ​Nhưng bà may mắn được sinh ra trong một gia đình mà tri thức là thứ sản nghiệp quý giá nhất. Cha bà là cụ Thám hoa Nguyễn Đức Đạt – một bậc đại khoa lẫy lừng, người không chỉ nổi tiếng bởi học vấn uyên thâm mà còn bởi khí tiết thanh cao. Thuở ấy, dù tư tưởng “trọng nam khinh nữ” còn nặng nề, nhưng cụ Thám hoa đã sớm nhận thấy tư chất thông minh, mẫn tiệp trong ánh mắt của con gái mình. ​Thay vì chỉ dạy con thêu thùa hay nữ công gia chánh thông thường, cụ Thám đã cho phép Nguyễn Thị Đào được lui tới nơi thư phòng. Tuổi thơ của bà là những buổi chiều ngồi lặng yên nghe cha bàn luận kinh văn với các bậc sĩ phu. Bà lớn lên giữa mùi mực tàu nồng đượm, giữa tiếng lật sách của những pho kinh điển. Chính không gian ấy đã hun đúc nên một “Nữ sĩ” Sầm Phố với tâm hồn tinh tế nhưng cốt cách lại vững chãi như bàn thạch.

Khi trưởng thành, bà kết hôn cùng ông Cử nhân Tạ Quang Diệm, một trí thức có tiếng tại Hà Tĩnh. Những tưởng cuộc đời bà sẽ trôi đi trong êm đềm của một gia đình “môn đăng hộ đối”, chồng xướng vợ tùy. Thế nhưng, bi kịch ập đến như một nhát dao định mệnh: ông Cử Diệm lâm bệnh rồi qua đời sớm. ​Ở cái tuổi xuân thì đẹp nhất, bà trở thành góa phụ. Đặt lên vai bà lúc bấy giờ là nỗi đau mất chồng, mà còn là một đàn con nhỏ dại và một gia cảnh bắt đầu sa sút theo sự biến động của thời cuộc. Người ta vẫn thường bảo “phúc đức tại mẫu”, và có lẽ, trong những năm tháng gian truân ấy, bản lĩnh của người con gái nhà Thám hoa mới thực sự tỏa sáng. ​Bà phải rũ bỏ xiêm y khuê các để khoác lên mình tấm áo nâu sòng của người lao động. Một mình bà quán xuyến từ việc đồng áng, vườn tược đến việc lo toan đối nội đối ngoại cho dòng tộc họ Tạ. Đất miền Trung khắc nghiệt, “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa”, nhưng nó không mài mòn được ý chí của bà. Trong gian nhà tranh vách đất, bữa cơm có khi chỉ là bát canh nhút mặn chát, nhưng ánh đèn dầu đọc sách của các con bà thì chưa bao giờ tắt sớm. Chính sự hy sinh thầm lặng, sự “thắt lưng buộc bụng” của bà đã bảo vệ vẹn nguyên cái hạt giống trí tuệ cho dòng tộc giữa một thời đại mà đạo học đang bị rẻ rúng. ​

Dù bị cuốn vào vòng xoáy mưu sinh thực tại, bà vẫn giữ cho mình một thế giới nội tâm thuần khiết. Bút danh Sầm Phố chính là biểu tượng cho sự tự tôn ấy. “Sầm” là núi cao, “Phố” là vườn tược. Bà tự ví mình như một khu vườn xanh mát nằm tĩnh lặng trên đỉnh núi cao. Dẫu dưới chân núi có là bụi bặm, là gió bão hay sự hỗn tạp của thời cuộc, thì tâm hồn bà vẫn phải giữ được sự thanh sạch và cao thượng. ​Bà không chỉ làm thơ để khuây khỏa, mà còn dùng ngòi bút để lên tiếng. Trong thời đại mà người phụ nữ còn bị giới hạn bởi “tam tòng tứ đức”, bà đã dũng cảm gửi bài đăng trên tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Những vần thơ, bài viết của bà mang nặng nỗi ưu tư về vận mệnh nước nhà, về sự xuống cấp của đạo đức xã hội dưới gót giày thực dân. ​Đáng nể hơn, bà có mối quan hệ thâm giao với những chí sĩ lớn nhất của dân tộc như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu. Đứng trước những bậc vĩ nhân ấy, bà không hề tự ti hay lép vế. Bà đối thoại với họ bằng phong thái của một người tri thức, một người mẹ đang lo lắng cho tương lai của thế hệ trẻ. Chính tư duy tân tiến, không bảo thủ đã giúp bà trở thành một trong những nữ sĩ tiêu biểu của vùng đất Lam Hồng. ​

Nếu phải chọn ra di sản vĩ đại nhất của cụ Sầm Phố, thì đó chính là những người con của bà, đặc biệt là Giáo sư Tạ Quang Bửu và Tạ Quang Đệ (Quang Đạm). ​Người ta thường nói về Giáo sư Tạ Quang Bửu như một huyền thoại, người thông thạo nhiều ngoại ngữ, một nhà khoa học quân sự lỗi lạc, người góp công lớn vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhưng có lẽ, ít ai biết rằng trước khi tiếp cận với khoa học phương Tây hiện đại, ông đã được “tắm” trong dòng chảy văn hóa Đông phương từ người mẹ của mình. ​Một câu chuyện cho thấy tầm nhìn vĩ đại của bà chính là việc bà gửi người con trai Tạ Quang Đệ đến nhà cụ Phan Bội Châu khi cụ đang bị thực dân Pháp giam lỏng ở Huế. Vào thời điểm đó, việc giao du với một “tội phạm chính trị” như cụ Phan là cực kỳ nguy hiểm. Nhưng bà Sầm Phố đã vượt qua nỗi sợ hãi cá nhân. Bà hiểu rằng, muốn con nên người, muốn con có chí lớn, thì phải cho con được gần gũi với những nhân cách lớn. Bà muốn các con mình không chỉ có kiến thức trong sách vở, mà phải thấm nhuần nỗi đau mất nước và ý chí phục quốc từ những bậc tiền bối. Đó là một phương pháp giáo dục vừa nghiêm cẩn, vừa đầy tính khai phóng, điều mà ngay cả nhiều bậc trí thức nam giới thời đó cũng chưa chắc làm được. ​ ​

Cuộc đời cụ Sầm Phố còn được tô điểm bởi một tình bạn cao đẹp và bền bỉ với bà Nguyễn Thị Thanh, người chị cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai người phụ nữ cùng chung nguồn gốc sĩ phu, cùng chịu đựng những nỗi đau mất mát người thân vì đại cuộc, đã tìm thấy ở nhau sự đồng điệu sâu sắc. ​Trong những năm tháng vất vả nuôi con, “O Thanh” thường xuyên qua lại thăm nom bà Sầm Phố. Sự gắn kết giữa hai gia đình Nguyễn Sinh và Tạ Quang vừa là tình làng nghĩa xóm, mà còn là sự nương tựa vào nhau về mặt tinh thần giữa bóng tối của chế độ thực dân. Họ cùng nhau chia sẻ những mẩu tin về cuộc cách mạng, cùng động viên nhau giữ vững nếp nhà để chờ đợi một ngày mai tươi sáng. O Thanh chính là người tiếp thêm niềm tin cho bà Sầm Phố về con đường mà các con bà đang dấn thân. ​

Cụ Sầm Phố tạ thế vào năm 1975, thọ 90 tuổi. Bà ra đi đúng vào năm đất nước thống nhất, hoàn thành tâm nguyện cả một đời mong mỏi. Chín mươi năm cuộc đời, bà đã chứng kiến đủ những bi kịch của lịch sử: từ sự sụp đổ của vương triều phong kiến đến những cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ. ​Bà không để lại những công trình đồ sộ hay những phát minh khoa học, nhưng bà để lại cho đời một “mẫu hình” người phụ nữ Việt Nam lý tưởng. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự dịu dàng, nhẫn nại của người mẹ và bản lĩnh, trí tuệ của một sĩ phu. Bà là người đã giữ lửa, truyền lửa và thắp sáng lên những nhân cách lớn cho đất nước.

Thanh Ngân