Có một sự thật, người Việt luôn tự hào về sự đa dạng trong văn hóa dân tộc mình. Việt Nam, dải đất cong chữ S, có năm mươi tư dân tộc anh em. Cái con số ấy, được nhớ từ những câu chuyện cổ tích, được đem lên bục giảng, được giương ra sau những điệu múa xòe, múa sạp trên sân khấu lễ hội du lịch… Nhưng rồi, sau ấy, ít người tự vấn: chúng ta liệu có thật sự hiểu về các dân tộc anh em khác? Để lí giải được câu hỏi đó, là một hành trình rất phức tạp. Nên bài viết này sẽ chỉ xin nói riêng về văn chương Dân tộc thiểu số.
Cứ thử bước vào một hiệu sách lớn nào đó ở đô thị mà xem. Sách về lịch sử, văn hóa, văn học của người Kinh, nằm chễm chệ, bìa bóng lộn, đủ cả ấn bản cũ mới. Còn sách về 53 tộc người còn lại, hiếm hoi hơn. Những cuốn sách ấy thường sẽ mang một vẻ gì đó cũ kỹ, tựa đề thì lạnh lùng, khô khốc, đa số sẽ là “Khảo cứu…”, “Tộc người…”. Chúng không phải sách đọc để khóc cười cùng nhân vật, mà số nhiều là sách để tra cứu, phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu, để lấy ra những trích dẫn cho bài luận…
Sự vắng mặt kinh niên ấy, đã tạo nên một khoảng không. Và trong cái khoảng không lặng câm ấy, sự tưởng tượng dại dột của số đông bắt đầu trỗi dậy. Thì đây, người Mông, người Dao trong tâm trí ta cứ mãi là những bức tranh lãng mạn hóa đến mức muốn phát điên: cô gái má hồng, váy thổ cẩm rực rỡ đứng chênh vênh bên ruộng bậc thang. Hoặc tệ hơn, họ bị đóng khung trong cái khung cảnh nghèo khó, chờ đợi được “giúp đỡ” từ miền xuôi. Cả hai cái nhìn ấy, dẫu xuất phát từ thiện ý hay định kiến, cũng đều là hai cái lồng sắt. Chúng tước đi cái đời sống phức tạp, bươn chải, và cái phẩm giá của những con người thật. Người ta nói về Tây Nguyên, nói về mảnh đất đỏ Bazan, với ánh nhìn của người đi du lịch: cà phê, rừng già, cồng chiêng. Nhưng mấy ai thực sự hiểu được cuộc vật lộn thầm lặng, dai dẳng của người Ê-đê, M’nông với những khoảnh đất đang cạn kiệt, với cái chế độ mẫu hệ đang chịu áp lực… Ta trầm trồ trước hoa văn thổ cẩm của người Thái, nhưng có mấy ai cúi xuống mà hiểu cái ngôn ngữ của những sợi chỉ ấy, nó kể về vũ trụ, về dòng họ, về cái khát vọng sống còn của họ? Cái thiếu hiểu biết này là một bức tường dày cộp, vô hình, ngăn cản sự đồng cảm, sự chung vai gánh vác. Và khi không hiểu, người ta dễ dàng coi sự khác biệt như một thứ kỳ quái, cần phải quan sát từ xa, hoặc tệ hơn, phải tìm cách uốn nắn, đồng hóa cho giống mình.
Mỗi bận một già làng người Cơ Tu, người Brâu ra đi mà không kịp truyền lại bài ca nghi lễ cuối cùng, là quốc gia này đã đánh mất vĩnh viễn một chìa khóa giải mã văn hóa dân tộc. Ngôn ngữ một dân tộc tắt đi, là mất đi cả một vũ trụ quan, một cách nhìn, cách nghĩ, đã được mài giũa suốt hàng trăm năm sống còn, đúc kết bằng cả máu và nước mắt.
Thế nhưng, trong cái bức tranh có phần mờ đục ấy, vẫn còn những tia sáng le lói. Xã hội ngày nay cần, không chỉ là những báo cáo dân tộc học khách quan lạnh như tiền, mà là những tiếng nói chủ quan, nồng hậu, da thịt, bước ra từ chính cộng đồng ấy. Như những vần thơ thô ráp, day dứt của Nông Quốc Chấn, nơi núi rừng và con người quện vào nhau trong cái khốc liệt lẫn cái tình người ấm áp. Hay những trang văn cũ của Ma Văn Kháng, nhễ nhại hơi thở và số phận miền núi phía Bắc, nơi cái đói, cái rét, cái tình cứ thế mà chật vật sống. Cao Duy Sơn với chính sự trải nghiệm, sự tích luỹ vốn sống cùng với trân trọng những giá trị tốt đẹp của cuộc sống của con người con miền núi; đã phản ánh, khắc hoạ, dự báo những vấn đề của dân tộc, quốc tế, nhân loại. Đoàn Hữu Nam thì bám sát cuộc sống các dân tộc thiểu số và miền núi, khai thác các mảng đề tài khác nhau, khiến nội dung trở nên phong phú. Và dĩ nhiên, những áng sử thi như “Đam San”, là bản anh hùng ca chứa đựng cả triết lý, khát vọng và cái bi tráng của dân tộc. Nhiệm vụ bây giờ, là phải lôi chúng ra, phải đánh thức chúng dậy, khoác cho chúng hình hài mới mẻ, hấp dẫn hơn mà mang trả lại cho đời sống. Vậy phải làm sao đây? Công việc này đòi hỏi sự tinh tế và kiên nhẫn.
Ta hẳn phải bắt đầu từ gốc rễ là trao quyền và khuyến khích tiếng nói bản địa. Phải có chính sách xuất bản đặc biệt, là một sự đầu tư công bằng vào cái di sản chung ấy. Phải tìm, phải hỗ trợ những người con của dân tộc Chứt, La Hủ… tự mình cầm bút kể câu chuyện của mình. Những câu chuyện ấy có thể là hồi ký, là một bài thơ, là một ghi chép giản dị về đời sống thường ngày. Đặc biệt, những cuốn sách song ngữ cho trẻ con, đó mới là hạt giống quý giá nhất để gieo mầm hiểu biết và tự hào từ thuở nằm nôi.
Tiếp đến, phải kéo những câu chuyện ấy ra khỏi cái chết chóc của kệ sách. Sách về các dân tộc khác chúng sẽ xuất hiện trên kệ sách du lịch ở Đà Lạt, ở phố cổ Hội An; trong phòng chờ của sân bay, bảo tàng. Tổ chức những buổi giao lưu nhỏ, ấm cúng, nơi người đọc được nhìn thẳng vào mắt tác giả, hoặc một nghệ nhân, nghe họ kể, nghe họ giải mã câu chuyện. Khi câu chuyện có khuôn mặt, có hơi thở, nó sẽ chạm đến trái tim người nghe bằng một con đường khác, sâu sắc hơn mọi bài giảng.
Xét cho cùng, việc đọc và thấu hiểu văn hóa các dân tộc anh em là một cuộc hành trình dài. Mỗi dân tộc, với kinh nghiệm sinh tồn độc đáo, là một tấm gương soi lại một góc khuất của tâm hồn Việt. Người Chăm dạy sự kiên cường và giao thoa. Người Mông dạy tinh thần tự do, bất khuất giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Người Khmer Nam Bộ dạy sự phóng khoáng của sông nước. Nếu khép lại những trang sách về họ, thì cũng chính là khép lại một phần trí tuệ và linh hồn của dân tộc. Hãy để cái việc đọc về sự đa dạng ấy trở thành một niềm say mê khám phá. Khám phá một Việt Nam rộng lớn, sâu thẳm, đẹp đẽ, ẩn mình ngay trong lòng đất nước thân thuộc. Bởi lẽ, chỉ khi thực sự hiểu được cái gai góc, cái đẹp và cái khổ của nhau, 54 mảnh ghép mới thực sự hợp thành một bức tranh toàn vẹn, và bức tranh ấy mới xứng đáng mang cái tên Việt Nam.
(Như đã nói từ đầu, hành trình thấu hiểu và bảo vệ sự đa dạng văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Trên thực tế, trong những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến nhiều nỗ lực đáng ghi nhận từ các cơ quan quản lý văn hóa, viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức xã hội và chính các cộng đồng địa phương. Nhiều dự án bảo tồn ngôn ngữ, lễ hội, nghề thủ công truyền thống đã được triển khai. Ngoài văn chương, các loại hình nghệ thuật khác như điện ảnh, âm nhạc, múa, sân khấu cũng đang từng bước tái hiện và tôn vinh đời sống tinh thần phong phú của các dân tộc một cách chân thực và sâu sắc hơn. Bài viết này, với góc nhìn và trăn trở riêng, chỉ tập trung phân tích một mảnh ghép nhỏ – văn chương – và đề xuất một số hướng tiếp cận trong phạm vi đó. Hy vọng góp thêm một tiếng nói để thúc đẩy cuộc trò chuyện này trở nên rộng mở, thiết thực và hiệu quả hơn nữa. Rất mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến và những câu chuyện từ chính bạn đọc, những người đang quan tâm và gìn giữ sự đa dạng muôn màu, vốn là cội nguồn sức mạnh của văn hóa Việt Nam.)
Thanh Ngân





