Những ai từng có dịp tiếp xúc nhiều với nhà thơ Chế Lan Viên đều thừa nhận một điều: ông sắc sảo, thông minh, nhưng… tính khí hơi thất thường, đôi khi có phần nóng nảy. Thật lạ: sự nóng nảy ấy, Chế Lan Viên thường chỉ bộc lộ qua những cuộc cãi vã, tranh luận văn chương. Nó làm cho cuộc sống vốn dĩ đang muôn bề lãng mạng của ông lại càng thêm… căng thẳng! Nói Chế Lan Viên khổ vì hay… tranh luận, cũng không phải không có cơ sở.

Ông không cãi để thắng danh, cũng không cãi để thể hiện quyền uy. Ông cãi… vì yêu văn chương, yêu cái chữ, yêu cái đẹp, và đôi khi… yêu chính mình một cách… hơi trớ trêu.

***

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, bạn thuở thiếu thời của Chế Lan Viên, từng kể: một lần, hai ông đi thăm Hungary. Khi mới chân ướt chân ráo về nước, gặp phu nhân của tác giả “Điêu tàn”, nhà văn Vũ Thị Thường, ông Lãm bị bà hỏi ngay:

— Thế hai ông đi với nhau có cãi nhau không đấy?

Nguyễn Viết Lãm ngạc nhiên:

— Sao chị lại hỏi thế?

Bà Thường giải thích:

— Tôi biết tính anh ấy hay phản ứng làm cho anh em giận, lại thích nói thật đau, không chừa người nào.

Quả thật, trong cãi vã, tranh luận học thuật, Chế Lan Viên hay có những phát biểu nặng lời và… không chừa người nào. Lành hiền, điềm đạm như nhà văn Bùi Hiển, tác giả truyện ngắn “Nằm vạ”, vậy mà trong hồi ký “Bạn bè một thuở”, nhắc lại những ngày sống và làm việc bên cạnh Chế Lan Viên, ông vẫn phải thừa nhận:

“Có lúc chúng tôi cũng hơi nổi nóng với nhau”

Với bác Tú Mỡ, người hơn ông tới hai mươi tuổi, trên diễn đàn văn học, Chế Lan Viên cũng không chịu nhún nhường. Nhà thơ Ngô Văn Phú kể: Một lần, Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo về thơ trào phúng. Tại đây, đã nổ ra tranh luận gay gắt giữa Chế Lan Viên và Tú Mỡ:

Theo Chế Lan Viên, thơ trào phúng có hai dòng: một dòng kiểu Tú Xương, Tú Mỡ, một dòng trào phúng trữ tình kiểu Mayakovsky (nhà thơ người Nga), Aragon (nhà thơ người Pháp).

Tú Mỡ thì phản bác: trào phúng phải mang được cốt cách dân tộc, và “trào phúng Tây thì chưa chắc đã được thích bằng trào phúng ta”.

Chuyện có vẻ đơn giản, nhưng với Chế Lan Viên, đơn giản là… chưa đủ. Ông bực dọc, nóng nảy, bỏ hội nghị ra ngoài. Nhà phê bình Hoài Thanh, người chủ trì hội nghị, phải chạy theo dàn hòa mãi, ông mới chịu quay trở lại.

Ông nóng nảy với đàn anh Tú Mỡ tưởng đã là ngưỡng cuối. Vậy mà với lão nhà văn Phan Khôi, người hơn ông tới 33 tuổi, khi vấp nhau về quan điểm, Chế Lan Viên cũng không khoan nhượng. Theo một nhật ký ghi lại ngày 2/9/1956 của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên từng gọi Phan Khôi là “hèn” vì thông qua vợ đầu, Phan Khôi khuyên ông nên giữ thái độ trung lập.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng, chủ nhân của “Say nửa chừng”, cũng từng kể lại trong hồi ký, trích dẫn những lá thư Chế Lan Viên gửi ông vào cuối thập niên 1950, cho thấy nhà thơ có lúc mắng mỏ gay gắt. May mà Nguyễn Văn Bổng hiểu tính Chế Lan Viên, chỉ cười trừ, nên sau này Chế Lan Viên còn cảm động nói rằng sở dĩ ông có cách xử thế ấy là vì Nguyễn Văn Bổng “một bụng thương và hiểu” ông.

Nhà thơ Hoàng Minh Châu trong bài “Chế Lan Viên với nghề thơ” kể: từng có lần tác giả “Trên đường về” nổi khùng lên với Hoàng Minh Châu chỉ bởi trong bản thảo một tập thơ mới, với tư cách biên tập viên, Hoàng Minh Châu khuyên tác giả nên tỉa bớt vì “có đoạn khô và lộ ý giáo dục”.

Thừa nhận cha mình là nóng tính, nữ văn sĩ Phan Thị Vàng Anh kể:

“Chỉ những đêm rằm, vườn nhà tôi đầy trăng, cha bảo: “Tắt đèn, ra ngoài hè ngồi xem”. Chị em tôi theo ra, ngồi khen trăng được vài phút, cha lại quay sang bàn chuyện văn với mẹ, rồi tranh luận, có khi cãi cọ, quên cả trăng”.

“Tắt đèn, ra ngoài hè ngồi xem trăng”, ông bảo, nhưng rồi… trăng phải nhường sân cho chữ nghĩa!

Thật ra, sự nóng nảy của Chế Lan Viên cũng có lý do: ông coi chữ nghĩa là thiêng liêng, và mỗi cuộc tranh luận là dịp thử nghiệm tư duy, thử thách bản lĩnh. Trong mắt ông, tranh luận không chỉ là lời nói, mà là trò chơi trí tuệ, nơi nghệ sĩ phơi bày quan điểm và tính cách văn hóa – nghệ thuật.

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm nhận xét: Chế Lan Viên “có tấm lòng cao thượng, hào hiệp, hay giúp đỡ người khác, nhưng cũng có những cá tính dễ làm người khác không bằng lòng”.

Đúng vậy, Chế Lan Viên không hèn nhát trong tranh luận, cũng không để người khác thao túng. Nhưng đằng sau sự nóng nảy, ông là người dễ mủi lòng, dễ xúc động, dễ tha thứ. Nhà phê bình Mai Quốc Liên từng nhận xét:

“Cãi nhau cái gì, ảnh cũng tranh phần thắng, vậy là không phải ảnh có ý xem thường, mà luôn coi người đối thoại là bình đẳng”.

Nếu ví Chế Lan Viên là một “thánh tranh luận”, cũng không quá. Nhưng “thánh” ở đây không phải kiểu thánh hiền từ, mà là thánh… chơi chữ, thánh… thách thức, thánh… khiến người khác phải bật cười hoặc giật mình trước những lời lẽ sắc sảo. Chế Lan Viên có thể nổi khùng vì trào phúng, vì bản thảo, vì phê bình, nhưng ông cũng biết yêu, biết cảm thông. Ông cãi để bảo vệ chữ nghĩa, nhưng cũng cười để thấy đời nhẹ hơn. Và có lẽ, chính sự đối lập ấy, nóng nảy mà dễ thương, gay gắt mà bao dung, làm nên nét rất riêng của ông.

Thật ra, nếu không hiểu Chế Lan Viên, người ta sẽ tưởng ông khó ưa. Ngay bản thân Chế Lan Viên, trước khi giã biệt cuộc đời cũng nói có nhiều người không ưa mình, thậm chí (trong thư gửi Hoàng Trung Thông) ông còn cho rằng sẽ có nhiều người vui khi biết ông “gặp tai nạn” (lúc ấy nhà thơ được xác định là bị ung thư phổi).

Nhưng chỉ cần một lần tranh luận, hay đọc một bức thư, hay lắng nghe một lời giải thích, người ta sẽ nhận ra: bên ngoài nóng nảy, bên trong đầy chất thơ và nhân hậu.

Và cuối cùng, sau mọi cuộc tranh cãi, mọi cơn nóng giận, mọi lần bỏ ra ngoài hội nghị, Chế Lan Viên vẫn là nhà thơ của chữ nghĩa, của trăng và vườn, của lòng bao dung và sự trắc ẩn. Ông dạy chúng ta một bài học: tranh luận không phải để thắng, mà để sống, để thấy người đối thoại bình đẳng, để trân trọng từng khoảnh khắc trí tuệ và nhân tính.

Và như thế, cái nóng nảy ấy, cái sắc sảo ấy, cùng với tiếng cười và ánh mắt trầm tư, đã trở thành dấu ấn không thể phai mờ trong đời sống văn học Việt Nam.

Ngô Tiến Vinh