Gió bấc cuối năm 1800 tràn qua Thăng Long, lùa cái lạnh thấu xương vào gian nhà tranh xiêu vẹo nơi mẹ con Hồ Xuân Hương trú ngụ. Trong phòng, chỉ còn lại mùi của thuốc Bắc và hơi tro củi tàn lụi sau chuỗi ngày mẹ nàng lâm bệnh nặng. Khách khứa giờ vắng hẳn; sách vở trên chiếc phản gỗ cũng phủ bụi vì chẳng còn ai đến nhờ dạy dỗ hay mượn chép. Gánh nặng sinh kế đè lên vai cô gái mới đôi mươi.
Không thể mãi ngồi chờ đợi, Xuân Hương đánh bạo theo hai người quen ở làng Nghi Tàm là chị Sáu và cô Hoa, thuê một cỗ xe ngựa, chở hàng lên vùng Hưng Hóa – Phong Châu buôn bán. Đường núi khúc khuỷu, xe ngựa nghiến sỏi kêu lạo xạo qua bao dặm trường, nhưng nàng chấp nhận tất cả, chỉ mong đổi lấy chút tiền nuôi mẹ.
Khi hàng hóa đã vãn và nàng đang sắp sửa tính chuyện hồi hương, một cái duyên bất ngờ chợt ập đến. Giữa phố, Xuân Hương nhận ra một gương mặt thân quen. Đó chính là Nho Trâm, người học trò cũ của thân phụ nàng, cụ đồ Hồ Phi Diễn. Mười lăm năm kể từ ngày thầy mất, giờ anh ta đã lập gia đình, nhưng dáng vẻ nho nhã ngày nào vẫn còn đó. Họ dừng lại giữa dòng người xuôi ngược, trao đổi vài câu về chuyện xưa và hẹn ngày về thăm thôn Tiên Thị. Cuộc gặp gỡ ấy thoáng qua như gió thoảng, nhưng nó lại mở ra một khúc quanh mà sau này, chính Xuân Hương cũng không lý giải nổi.
—–
Thời gian lặng lẽ trôi. Cuối năm Tân Sửu 1801, Xuân Hương rời Thăng Long, về Sơn Dương mở lớp dạy học. Người ta thường trêu nhau rằng “đồ Sơn Dương” thì hay nóng tính, nhưng nàng về đây vì miếng cơm manh áo, chẳng bận tâm đến những lời đùa cợt ấy. Dường như là sự sắp đặt của định mệnh, nàng lại gặp Nho Trâm thêm một lần nữa. Lần này anh đi cùng hai bạn đồng môn là Tú Điếc và một người đàn ông cao lớn, kiệm lời, được gọi là Tổng Kình.
(Nói thêm về Tổng Kình tức Nguyễn Bình Kình, chàng tuy chỉ đỗ Tú tài nhưng xuất thân danh gia vọng tộc, tính cách lại khác hẳn lối sống của nhiều nhà khoa bảng thời bấy giờ. Ông nội chàng là Tiến sĩ Nguyễn Quang Thành; bản thân Kình nổi tiếng văn võ song toàn, lại gan dạ, làm phó Tổng. Nhiều lần dân làng Gáp gặp việc oan khuất đều nhờ chàng đứng ra phân giải với bề trên. Nhờ vậy tên tuổi Kình vang xa.)
So với hai người bạn ríu rít nói cười, Đội Kình luôn trầm lặng. Trong những buổi trà rượu, khi Tú Điếc hay Nho Trâm tranh luận về chuyện văn chương chữ nghĩa, Kình chỉ hơi ngả người dựa vách. Ánh mắt chàng tĩnh tại, như thể đang lắng nghe cân nhắc từng lời nói. Xuân Hương dù đã quen với đủ dạng tính khí của giới nho sĩ đương thời, vẫn thấy khó mà dò được lòng người này. Chàng không tỏ vẻ sùng kính nàng thái quá, nhưng mỗi khi nàng cất giọng ngâm thơ hay đối đáp, mắt chàng lại loé lên một tia sáng rất nhỏ.
—–
Chiều cuối tháng Chạp, gió đông mang theo mùi nếp mới và khói bánh chưng phảng phất khắp làng. Sau bữa rượu làng Vân ấm nồng, không khí vốn đã vui vẻ lại càng thêm rộn rã. Vui miệng, Xuân Hương nói:
– Ba người các anh ai cũng xưng là giỏi chữ. Vậy thử đối lại vế đối về Tết xem nào.
Tú Điếc cười lớn, tưởng nàng bông đùa; Nho Trâm thì đầy hứng chí. Chỉ riêng Kình vẫn giữ vẻ bình thản. Chưa ai kịp mở lời, chàng đã hỏi:
– Nếu bọn anh đối được, Xuân Hương định ban thưởng gì?
Nàng chống tay lên bàn, ánh mắt liếc qua ba người:
- Nếu đối được, em xin biếu một hũ rượu Vân quý nhất trong nhà.
Rồi nàng đọc chậm rãi, từng chữ:
– Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới.
Tú Điếc, Nho Trâm mặt đờ ra. Họ xoay đủ hướng, nào chuyện tà khí, nào lễ tống cựu nghênh tân, mà chẳng tìm được ý nào bắt trọn cái hàm ý rộng lớn, bao trùm trời đất và thời khắc chuyển mùa trong vế đối ấy. Chỉ có Kình nhìn Hồ Xuân Hương hơi lâu, rồi chàng mỉm cười:
– Vế đối đã bao trùm cả trời đất và thời khắc chuyển mùa. Không thể vội vàng mà nói. Xin chờ Kình đến mùng một sẽ ứng khẩu trước mặt.
Hồ Xuân Hương gật đầu. Đêm giao thừa trôi qua với tiếng pháo vọng lại từ xa, dân làng chúc nhau một năm mới an lành.
Sáng mùng một, khi sương vẫn đọng từng giọt trên lá cây, Xuân Hương mở cửa lớp học nhỏ thì thấy Kình đã đứng sẵn ở sân, dáng vẻ ung dung.
– Anh đến sớm vậy? – Nàng hỏi.
– Kình đến xin đáp lại vế đối.
Chàng cúi chào rồi đọc rõ ràng, từng chữ dứt khoát:
– Sáng mồng một mở then tạo hóa để cho thiếu nữ rước xuân vào.
Câu đối đáp cân xứng đến lạ: tối – sáng, ba mươi – mồng một, khép – mở, càn khôn – tạo hóa. Nhưng ngoài sự chỉn chu về niêm luật ấy, điều khiến Xuân Hương sững lại chính là hai chữ thiếu nữ. Một lớp nghĩa tình tứ, vừa đủ để giữ lễ, lại đủ để người nghe phải bối rối. Nàng đứng lặng một hồi. Trí tuệ sắc bén bao lần khiến đối thủ phải khuất phục nay bỗng hơi chao đảo. Kình nhìn nàng, ánh mắt chàng bình lặng. Câu đối này đáp lại một thử thách văn chương, cũng là một lời gõ cửa rất khẽ vào cuộc đời nàng.
—–
Tài năng của người đàn ông kia càng khiến nàng để tâm, thì những điều về chàng nàng càng phải đối diện. Tổng Kình đã có hai vợ. Vợ cả là con nhà giàu có, giỏi giang có tiếng trong vùng, nhưng lâu năm không sinh nở. Vợ hai người làng Xuân Lũng, tảo tần, đông con, có nghề thuốc nam gia truyền. Trong gia đình, mọi việc cho chính thất vợ cả thu xếp nên mọi việc lớn nhỏ đều phải hỏi qua chị ấy. Chuyện Kình có ý nạp thêm vợ ba bị người ta bàn luận râm ran: rằng chàng cần một người có học để dạy dỗ con cái, rằng vợ cả dù đảm đang nhưng bề bộn quá nhiều việc, rằng cửa nhà danh giá thì cần người trông nom lễ nghi. Những lời ấy đến tai Xuân Hương, nàng giữ im lặng. Không ai hiểu hơn nàng cái giá phải trả khi bước vào kiếp vợ lẽ. Thân phận ấy chẳng khác gì treo mình bên lề, chỉ cần một sự thất ý của gia đình nhà chồng là có thể rơi xuống vực sâu.
Mẹ Tổng Kình là một người đàn bà từng kinh qua bao sóng gió, xem xét rất kỹ. Khi biết rõ lai lịch nàng, bà chỉ nói với con:
– Con đường số phận của mỗi người chẳng giống nhau. Nếu nó hướng đến nhà mình, thì phải biết giữ gìn. Con bé đó có học, có chữ. Nhà mình coi như là được thêm.
Vợ cả và vợ hai nhìn thì không phản đối, nhưng đôi khi lại đỏ hoe mắt. Ôi có gì đau đớn hơn khi bị chia sẻ chồng. Nhưng xã hội khi ấy vốn dĩ như vậy.
Việc Kình cưới vợ ba được gia đình đồng thuận, thế là hôn lễ được tiến hành vào đầu xuân. Lễ nghi đầy đủ, khiến cả vùng rộn chuyện. Họ bàn tán về một nữ sĩ tài danh lại chấp nhận làm lẽ. Xuân Hương nghe hết, nhưng không buồn thanh minh. Ngày rước dâu, trời hanh khô, nắng dịu nhẹ; Kình sánh vai nàng, tay giữ dây ngựa, tay đỡ nàng lên xe. Khi chiếc xe lăn khỏi cổng làng, Xuân Hương nhìn lại, biết đời mình từ đây sang một trang khác hẳn.
Thanh Ngân





