Chuyện kể rằng, sau cái đêm Tổng Kình bỏ làng Gáp mà đi, Nguyệt Hồ từng soi bóng trăng thanh, từng chứng kiến biết bao lời thề hẹn, bỗng trở nên tĩnh mịch, lặng câm một cách lạ lùng. Sự biến mất đột ngột của người đàn ông hào hoa, cự phú này trong mắt người dân Tứ Xã, nó đã là một bằng chứng rõ ràng: Hồ Xuân Hương đã “ám” chồng. Người đàn bà tài hoa nhưng bạc mệnh ấy đã khiến gia đình nhà chồng tan nát.

​Hồ Xuân Hương với cái bụng mang dạ chửa ngày một lớn, cứ lầm lũi trong căn nhà thủy tạ hoa lệ mà người chồng si tình năm nào đã dốc lòng xây dựng. Nơi đó từng là tổ ấm, giờ lại biến thành chốn giam cầm, hứng chịu mọi lời dèm pha, xỏ xiên. Sự cô độc như một bức tường vô hình, vây bọc lấy nàng. ​Trong tận cùng của nỗi cô độc ấy, Xuân Hương đã làm một việc nhói lòng: nàng tự tay chặt đứt mối duyên của mình. ​

Người làng đồn thổi, không lâu sau khi Tổng Cóc bỏ đi, Hồ Xuân Hương đã rời làng Gáp, chấp nhận theo về làm vợ lẽ cho Phủ Vĩnh Tường. Họ còn kể tỉ mỉ, ông Phủ đã cho ngựa xe, võng lọng sang trọng đến đón nàng đi một cách công khai. ​Theo lẽ thường tình của một làng quê xưa, người dân Tứ Xã vốn đã ghét cay ghét đắng cái người đàn bà bị gán cho cái tội “ám” chồng ấy, ắt hẳn phải xỉa xói, phỉ nhổ cho hả dạ. Phải coi đây là đỉnh điểm của sự bạc tình, lẳng lơ vì chồng mới đi, đã vội rũ bỏ để chạy theo chỗ giàu sang khác. ​Nhưng, điều lạ lùng đã xảy ra. Câu chuyện này lại chẳng đi theo cái lẽ ấy. ​Những cụ già trong làng, những người đã sống qua bao thăng trầm ở làng Gáp, Tứ Xã, lại không hề thốt ra những lời cay nghiệt. Khi buộc phải nhắc đến, giọng họ lại đầy vẻ trân trọng, thương cảm. Họ cho rằng Hồ Xuân Hương còn ở lại, ông Tổng làm sao mà sống yên thân? Tiếng thị phi của làng trên xóm dưới, sẽ đâm nát hết uy tín của Kình trước việc làng, việc nước. Nàng ấy đi, để Kình được yên. Để bà Cả, bà Hai trong nhà có thể quản xuyến như xưa, giữ cho cái gia đình ấy đừng tan vỡ hoàn toàn.

Họ bảo, Hồ Xuân Hương đã chọn cách hy sinh chính danh dự của mình. Nàng cam tâm ôm lấy tiếng xấu “bạc tình”, chấp nhận cho người đời khinh miệt, chỉ để giữ lại chút thể diện cuối cùng cho người chồng mà nàng đã từng yêu tha thiết.

Trong khi đó, Tổng Cóc lang thang khắp chốn. Tâm hồn chàng như vỡ vụn, tan tác. Đến khi trở về làng Gáp, cảnh tượng hiện ra trước mắt Nguyệt Hồ giờ chẳng còn là chốn hẹn hò thơ mộng ngày xưa nữa, nó như một vết tích hoang tàn của một thời đã qua. Người yêu đã đi. Căn nhà thủy tạ giờ chỉ còn trơ lại khung gỗ, với một nỗi cô quạnh mênh mông, lạnh lẽo bao trùm. ​Nỗi đau mất vợ chưa kịp nguôi ngoai, trong lòng chàng chỉ còn le lói một tia hy vọng cuối cùng: đứa con. Giọt máu của chàng và nàng. ​Chàng đánh liều tìm đến dinh cơ ông Phủ Vĩnh Tường, vượt qua cả lòng tự trọng đang bị giày xéo. Chàng cất lời, chỉ mong được đón con về, để có chút gì đó mà bấu víu vào cuộc đời đã gần như sụp đổ. ​Nhưng số phận hình như chưa buông tha chàng. Người hầu trong nhà ông Phủ lạnh lùng báo lại: đứa con gái ấy, vừa lọt lòng mẹ đã không sống được. ​Như một nhát búa cuối cùng, giáng thẳng vào con người vốn đã kiệt quệ. Chàng quay về, lòng đầy một nỗi sầu vô hạn.

​Ít lâu sau, khi đang vật vờ trong nỗi tuyệt vọng ấy, chàng nhận được một mảnh giấy nhỏ. Nét chữ quen thuộc đến nhói lòng. Đó là những câu thơ người đời gọi là “Khóc Tổng Cóc.” (Ngày xưa để tránh bị ma quỷ quấy phá, người xưa thường gọi con bằng những tên xấu, và Cóc là tên dân gian của Kình. Thành ra sau này mọi người hay truyền miệng như kiểu nữ sĩ gọi tên tục của Tổng Kình để chửi Kình.)

“Hỡi chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!”

​Kình siết chặt tờ giấy trong tay. Một lời oán than cũng là lời khóc thương cho một số phận quá bạc bẽo, một mối duyên quá ngắn ngủi. ​Hơn hai trăm năm qua, người đời cứ mặc định Tổng Cóc là kẻ vô học, cường hào dốt nát, gã chồng xấu xí, ác ôn. Bài thơ ấy nghiễm nhiên trở thành lời chửi rủa thô thiển, châm biếm, là đỉnh cao của sự mỉa mai mà một giai nhân tài hoa dành cho gã chồng cũ. ​Nhưng, chính những người dân Tứ Xã, lại giữ một cách giải hoàn toàn khác biệt. Họ thương cảm: “Bà ấy khóc cho cái mối tình, chứ có phải khóc vì ông Cóc chết đâu.”

“Hỡi chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!” Hai tiếng gọi ấy, đâu phải giọng mỉa mai, chế giễu lạnh lùng. Nó là tiếng gọi nghẹn ngào, đầy luyến tiếc, xót xa từ sâu thẳm tâm can của một người vợ với người chồng cũ.

“Thiếp bén duyên chàng có thế thôi” Là lời ngậm ngùi, cay đắng. Duyên bén nhau chỉ được có ngần ấy thôi. Hai cái tâm hồn đồng điệu, nhưng nào thắng nổi định kiến, thói đời. ​“Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé”Câu này mà nghĩ, đau lắm. “Nòng nọc,” ấy là hình ảnh ẩn dụ đầy bi thương về đứa con đã mất ngay khi lọt lòng rồi. Nó là sự đứt đoạn, là mất mát không gì bù đắp được. Cái dây ràng buộc cuối cùng giữa hai người, nay cũng đã đứt. Cái chết của đứa trẻ là dấu chấm hết, cho mối duyên này.

​“Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!” Là lời vĩnh biệt cuối cùng. Lời thừa nhận cái vết nhơ “vôi bôi” của kiếp làm lẽ, chẳng vàng bạc nào gột sạch được. Bài thơ ấy khóc cho người đàn bà đã phải chịu hai lần kiếp lẽ mọn tủi nhục.

​Thế nên, bài thơ “Khóc Tổng Cóc” có thể hiểu theo nghĩa này, như một lời giải oan. Nó khóc, cho cả hai. Khóc cho một người đàn ông bị mang tiếng ác xấu suốt đời vì cách cư xử có phần lỗ mãng. Và khóc cho một người đàn bà tài hoa, bản lĩnh, nhưng thân phận ba chìm bảy nổi, bị định kiến xã hội khắc nghiệt bấy giờ vùi dập. ​Mối tình của họ, giờ nghe lại, là một bi kịch. Ở đó, tình yêu dẫu có, cũng không đủ sức để chống lại cái lề thói cổ hủ khắt khe của xã hội phong kiến và cả sự ghen ghét, nhỏ nhen của đám đông làng xã. Nó chìm xuống, như cái hồ Nguyệt Hồ kia, chỉ còn là dấu tích mờ phai trong ký ức và trong những vần thơ đau đớn đến tận bây giờ.

Câu chuyện này là kết quả của một hành trình tìm tòi, tham khảo nhiều tài liệu, từ những giai thoại dân gian truyền miệng đến các bài nghiên cứu chuyên sâu về thi sĩ Hồ Xuân Hương và những vùng đất in dấu chân nàng (Tứ Xã, làng Gáp). ​Phần lớn cốt truyện được chắp vá từ những mảnh ký ức sót lại trong tâm thức dân gian. Dĩ nhiên, để thắp lên sinh khí, kết nối dòng chảy cảm xúc, và giúp câu chuyện thêm phần sống động, tôi có thêm thắt một vài chi tiết, lời thoại. Hy vọng sự thêm thắt này sẽ làm cho nhân vật trở nên chân thật và gần gũi hơn với bạn đọc. ​Đặc biệt, việc khắc họa hình ảnh Tổng Cóc (Tổng Kình). Trong quá trình tìm hiểu, tôi phát hiện ra những ghi chép và lời kể khác biệt: người dân địa phương và nhiều nhà nghiên cứu mô tả ông Tổng là một người hào hoa, có chí lớn, được dân chúng kính trọng. Một nhân vật được lòng dân đến thế, liệu có thể nào lại đồng nhất với gã “trọc phú xấu xí, thô lỗ, ác ôn” mà trước đó văn chương đã khắc sâu vào tâm trí công chúng? ​Thử hỏi, nếu không phải là một người đàn ông có tài hoa nhất định, thì bằng cách nào ông có thể chinh phục được một người phụ nữ kiệt xuất, sắc sảo, khinh ghét thói đời “năm thê bảy thiếp” như Hồ Xuân Hương, để nàng chấp nhận về làm lẽ? ​Sự thật lịch sử về mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương và Tổng Kình vẫn là một ẩn số lớn, nằm trong vùng giao thoa bán tín bán nghi giữa văn học dân gian và sử liệu chính thống. Vì lẽ đó, cách lý giải trong thiên truyện này xin được xem như một sự tái tạo đầy tính nhân văn và sáng tạo, dựa trên những căn cứ tìm được. Ước nguyện lớn nhất của người viết là được phục dựng lại những cảm xúc chân thực nhất, có thể đã ẩn giấu sau những vần thơ còn lưu truyền mãi đến muôn đời.

Thanh Ngân