Nếu như ở Trung Quốc, những giai thoại vua Khang Hy thời Thanh giả làm thường dân đi vi hành, giải quyết các bất công trong nhân dân, trị tội quan lại sai phạm, đã lừng danh tới mức được chuyển thể thành phim truyền hình. Từ đó, trở thành một phần ký ức của hàng triệu người Á Đông. Thì tại Việt Nam, nhân dân ta hoàn toàn có thể tự hào khi có một Lê Thánh Tông cũng thường xuyên đi vi hành vào dịp Tết Nguyên Đán với mục đích tương tự.
***
Những giai thoại vi hành dịp năm hết Tết đến của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ XV từng một thời đầm ấm và hết sức sôi nổi với những giai thoại vua vừa đi, vừa tặng câu đối. Bất kể sang – hèn hay có vinh – nhục, hễ động đến lòng nhân, ông lại viết tặng để gia chủ có cái treo trong nhà cho đỡ trống trải. Nhờ đó, ông gửi lời động viên, an ủi kịp thời đến những hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.
Truyền rằng, như mọi lần, vua Lê Thánh Tông mặc giả thường dân đi vi hành dịp Tết Nguyên Đán. Khi đến thăm một gia đình bán trầu nước, vua thấy gia đình có vẻ như không chuẩn bị gì cả. Ghé vào thăm hỏi mới biết gia chủ là người neo đơn. Thương tình, vua tự tay viết giúp bà chủ quán câu đối đỏ để treo trước quán:
“Nếp giầu quen thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm.
Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng”.
Câu đối nôm tài tình ở chỗ vẫn miêu tả một quán trầu nước với đầy đủ đồ đạc và hàng hóa: giầu, cơi, ấm, nước, bát, hàng, vẫn thể hiện rõ mong muốn con cháu sống an yên, buôn may bán đắt. Nhưng cái hay là giữa những thứ tưởng như tầm thường đó, vua vẫn có thể sử dụng khéo léo để cài cắm tầng nghĩa tỏ rõ ý chí trùm khắp bốn bể của mình. Thật là tài tình biết bao!
Tiếp đó, sau khi rời quán nước, nhà vua tiếp tục đi ra ngoại thành. Tôi đến, ông vào một xóm nọ, thấy có một nhà ở cuối thôn thì để đèn mờ leo lét, vẻ như cũng không có ý định sửa sang đón Tết. Vua vào hỏi thăm. Gặng hỏi mãi, chủ nhà mới ngượng ngùng đáp:
– Dạ!… Không dám giấu… chả là nhà cháu làm nghề hèn hạ, chuyên đi nhặt phân nên không dám linh đình đón Tết.
Suy nghĩ giây lát, nhà vua nói:
– Thôi được, nghề nào cũng là nghề, miễn là có ích cho dân. Tôi là học trò qua đường, xin viết giúp bác một đôi câu đối.
Câu này chữ Hán, viết rằng:
“Y nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự.
Đế tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm”.
Nghĩa là:
“Khoác một mảnh nhung y, gánh vác việc khó khăn của thiên hạ.
Nâng ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian”.
Ấy chà! Câu đối vẫn tả rõ nghề và công việc của gia chủ, nhưng lại dùng từ rất khéo léo để mang đầy khí phách của một bậc anh hùng khoác nhung y tiến ra chiến trường!
Đêm 30 Tết, giờ Giao Thừa đã gần đến, nhưng vua Thánh Tông vẫn thấy có một cái gì đó chưa ổn. Vậy là lại gọi mấy cận thần, cải trang, đi vi hành giữa đêm để xem con dân đón Giao Thừa ra sao. Quả nhiên, giữa vô vàn hân hoan, vẫn còn một gia đình đã chìm vào bóng tối. Vua thấy có điềm, liền gõ cửa vào chơi. Hỏi ra mới biết nữ chủ nhà vừa mất chồng. Động lòng thương cảm, vua an ủi và khuyên cũng nên làm Tết cho vui vẻ, cho con cái khỏi tủi thân. Biết gia đình làm nghề thợ nhuộm, ông liền sắn bút viết tặng một câu đối Hán như sau:
“Thiên hạ thanh, hoàng quy ngã thủ
Triều trung chu, tử tống ngô gia”.
Nghĩa là:
“Các thứ xanh, vàng trong thiên hạ đều vào tay ta.
Các thứ đỏ tía trong triều cũng đưa đến nhà ta”.
Vẫn tài tình như hai câu ở trên, câu này cũng vừa miêu tả chính xác công việc của người thợ nhuộm, vừa tỏ chí lớn bao trùm thiên hạ của một bậc đế vương.
Giai thoại còn kể rằng, mấy hôm sau, có một ông ông thượng thư họ Lương đi chầu. Qua nhà thợ nhuộm, thấy câu đối có khẩu khí thì hoảng hốt vô cùng. Vào triều, ông ta vội vàng tâu ngay với vua rằng nhà ấy có ý muốn làm bá chủ thiên hạ, cần phải cho người dò xét. Vua nghe xong phì cười và nói câu đối ấy là do tay mình viết hộ, làm cho ông thượng thư họ Lương bị một phen tưng hửng. Nhưng rồi, chẳng biết suy tính thế nào mà khi về nhà, ông ta nghĩ nhà thợ nhuộm mà được thiên tử ngự giá đến thì chắc con cháu sau này sẽ giàu sang phú quý. Vậy là quyết định: Đem ngay con gái mình gả cho con trai nhà thợ nhuộm đó!
***
Nhưng, nổi tiếng nhất trong các giai thoại vi hành dịp Tết của vua và vẫn được toàn dân nhớ tới phải kể đến việc đi thăm… siêu trộm! Vâng! Mọi người không đọc nhầm đâu! Vua giả làm thường dân, đi vi hành để tìm gặp một siêu trộm đó ạ! Vụ này nổi tiếng tới mức về sau này còn được chuyển thể thành phim đó!
Tương truyền rằng, tại kinh thành Thăng Long khi ấy, có một tên siêu trộm. Hắn chưa từng thất bại bất cứ một vụ nào, cũng chưa từng bị bắt. Hắn khiến cho nhiều quan chức và bổ lại phải vất vả truy tìm, nhưng vẫn không tài nào tìm ra tung tích. Nguyên do, hắn thoắt ẩn thoắt hiện, như gió như lốc, không tài nào tóm được. Vì hành tích được ví von như vậy, nên người ta đặt cho hắn biệt danh: Quận Gió.
Vào dịp gần Tết, vua Thánh Tông giả làm một người học trò nghèo đi vi hành. Tình cờ, trời xui đất khiến, vua gõ đúng cửa nhà Quận Gió. Làm bộ túng thiếu, vua nhận mình đi dạy học ở phường Đồng Xuân. Nhân năm hết tết đến đi về quê. Chẳng may bị trộm hết tiền. Giờ muốn xin ngủ nhờ một đêm.
Quận Gió thương tình, cho vào nhà, tiết lộ danh tính, rồi bàn tính chuyện ăn trộm giúp thầy đồ có lộ phí. Nhìn thấy nhà Quận Gió cũ kỹ, rách nát. Lại thêm trong lúc trò chuyện, siêu trộm đã nói rõ triết lý hành hiệp của mình là không tơ hào một xu để tích lũy cho bản thân, không trộm cắp nhà lương thiện, chỉ trộm của đám bất lương rồi mang đi giúp người khốn cùng. Nhờ đó, vua đã biết rằng đây là một trộm chính nghĩa! Cuối cùng, con mồi được nhắm đến là một tên quan coi kho hay ăn bớt của công. Vụ trộm diễn ra ngay trong đêm vô cùng suôn sẻ. Quận Gió hành động. Vua theo sau quan sát. Cầm được bạc, thấy đúng là tài sản của ngân khố, vua bèn giấu dưới chân thành, đi luôn về cung.
Ngay ngày Nguyên đán, trăm quan vào chầu, chúc vua muôn tuổi. Thánh Tông cho gọi quan coi kho đến, giả tảng hỏi:
– Nhà ngươi đêm qua mất trộm phải không?
Thấy hắn không đáp, vua lập tức sai viên quan Trung sứ đến dưới chân thành lấy năm nén bạc về. Vua đưa cho hắn xem, hắn cứng lưỡi không trả lời được, đành cúi đầu nhận tội.
Quận Gió sau đó được vua vời vào cung, ban cho hiệu là “ăn trộm quân tử” và ban thưởng rất hậu.
***
Dù rằng, những giai thoại vi hành của vua Lê Thánh Tông có thể không phong phú bằng của hoàng đế Khang Hy nước bạn. Nhưng không vì thế mà ta không thể nhìn thấy trong đó một tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân vẫn luôn thấm đẫm trong ông. Bia miệng muôn đời mãi không mòn. Những giai thoại vi hành dịp gần Tết Nguyên Đán của vua cứ thế sẽ còn được lưu truyền mãi, để nhân dân luôn ghi nhớ về một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất nhà Hậu Lê nói riêng và của dân tộc Việt Nam.
Ngô Tiến Vinh





