Trong dòng chảy cuồn cuộn và đầy biến động của lịch sử văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đứng trước một cuộc chuyển mình đau đớn nhưng tất yếu. Đó là giai đoạn mà những giá trị cũ kỹ, xơ cứng của hệ tư tưởng Nho giáo bắt đầu rạn nứt trước luồng gió mới mạnh mẽ từ phương Tây thổi vào. Giữa sự giao thoa đầy hỗn loạn ấy, Đạm Phương nữ sử là một hiện tượng đặc biệt, một gạch nối kiên cường giữa hai thời đại, người phụ nữ đã tự mình phá vỡ những bức tường ngăn cách của cung đình để bước ra cùng quốc dân đại đồng.
Xuất thân là Công nữ Đồng Canh, cháu nội vua Minh Mạng và là con gái của Hoằng Hóa Quận vương Miên Triện, bà vốn dĩ được định sẵn một cuộc đời nhung lụa, yên bình nơi cung đình Huế cổ kính. Tuy nhiên, định mệnh đã ban cho bà một tư chất thông minh thiên bẩm cùng sự giáo dục khai phóng từ người cha, một ông hoàng tinh thông cả Hán học lẫn Pháp văn, người đã nhìn thấy sự thay đổi của thời cuộc qua những cuốn sách tân thư. Thay vì an phận trong chốn lầu son gác tía, Đạm Phương đã chọn cho mình một con đường đầy gai góc nhưng vinh quang: dùng ngòi bút để thức tỉnh đồng bào, đặc biệt là những người phụ nữ đang chìm trong đêm tối của hạn chế việc học và định kiến.
Cái tên Đạm Phương không chỉ là một bút danh thanh tao, mà đã trở thành biểu tượng của một trong những trí thức nữ tiên phong, người đặt những viên gạch đầu tiên cho nền báo chí nữ giới Việt Nam. Vào năm 1918, việc bà công khai xuất hiện trên tạp chí Nam Phong (cơ quan ngôn luận quan trọng nhất bấy giờ), đã gây ra một cơn địa chấn trong giới trí thức. Ở thời điểm mà quan niệm “đàn bà không cần học cao”, “phụ nữ chỉ quanh quẩn xó bếp” vẫn còn thâm căn cố đế, việc một người con gái hoàng tộc cầm bút bàn luận về nhân sinh và xã hội là một hành động dũng cảm tuyệt vời.
Qua các chuyên mục như “Văn đàn bà” trên tạp chí Hữu Thanh hay “Lời đàn bà” trên Trung Bắc Tân văn, Đạm Phương đã không ngần ngại đặt vấn đề về địa vị của nữ giới một cách hệ thống. Bà thấu thị rằng: muốn được tôn trọng, phụ nữ trước hết phải có tri thức và sự tự lập về kinh tế. Bà viết về việc học chữ Quốc ngữ, về cách chăm sóc con cái theo khoa học, và cả cách phụ nữ phải quan tâm đến vận mệnh đất nước. Những bài báo của bà giống như những hồi chuông cảnh tỉnh, nhẹ nhàng nhưng vang xa, đánh vào tâm lý tự ti của phái yếu và sự bảo thủ của phái mạnh.
Sự nghiệp văn chương của bà không chỉ dừng lại ở những bài nghị luận sắc sảo mang tính thời sự mà còn lấn sân sang cả địa hạt tiểu thuyết, một thể loại còn khá mới mẻ đối với các tác giả nữ lúc bấy giờ. Cuốn tiểu thuyết Kim Tú Cầu, ra đời vào những năm 1920, được xem là một trong những tác phẩm văn xuôi Quốc ngữ đầu tiên của nữ giới Việt Nam. Qua những trang viết đẫm chất nhân văn nhưng cũng đầy tính phê phán, bà khéo léo lồng ghép tư tưởng về hôn nhân tự do, một chủ đề cực kỳ nhạy cảm và táo bạo.
Trong Kim Tú Cầu, Đạm Phương phê phán sự áp đặt nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến hủ bại, nơi những cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” đã bóp nghẹt hạnh phúc của bao kiếp người. Nhân vật của bà thường là những người phụ nữ có ý thức về cái tôi, khao khát được làm chủ vận mệnh chính mình. Qua đó, bà khẳng định rằng gia đình chỉ có thể bền vững khi dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải trên những xiềng xích của giáo điều cũ kỹ.
Tầm vóc của Đạm Phương nữ sử thực sự rực rỡ và vượt thoát khỏi hình ảnh một “văn nhân” đơn thuần khi bà bước từ bàn viết ra thực tiễn xã hội. Năm 1926, một dấu mốc vàng son trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam được xác lập: bà sáng lập Nữ công học hội tại Huế. Đây là một mô hình giáo dục phụ nữ mang tính cách mạng và thực tiễn sâu sắc. Tại Nữ công học hội, Đạm Phương đã hiện thực hóa triết lý giáo dục của mình. Bà thấu hiểu rằng lý thuyết suông sẽ không thể thay đổi được cuộc đời những người phụ nữ nếu họ không có phương tiện để sinh tồn. Vì vậy, bà tổ chức dạy chị em cách thêu thùa, nấu nướng, may vá để họ có cái nghề “lận lưng”, tạo dựng sự tự chủ về kinh tế là một trong những cái gốc của sự tự do.
Bà mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ, ngoại ngữ và tổ chức những buổi diễn thuyết định kỳ. Những buổi diễn thuyết ấy chính là nơi khai mở tư duy, nơi những khái niệm về quyền con người, về lòng yêu nước và trách nhiệm công dân được truyền thụ một cách tự nhiên. Bà quan niệm rất rõ rằng: “Nếu một nửa nhân loại không có học thức thì thế giới không thể tiến bộ”. Tinh thần nhân bản và tầm nhìn xa trông rộng ấy đã khiến những bậc đại chí sĩ, những linh hồn của phong trào yêu nước như cụ Phan Bội Châu hay Huỳnh Thúc Kháng cũng phải nghiêng mình kính trọng. Cụ Phan từng dành cho bà những lời tán tụng chân thành nhất, coi bà là một người đồng chí, một người bạn đường tin cậy trong sự nghiệp khai dân trí, chấn dân khí.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách công tâm dưới lăng kính lịch sử và xã hội học, hành trình của Đạm Phương nữ sử cũng mang những giới hạn khó tránh khỏi của tầng lớp và thời đại mà bà sinh sống. Tư tưởng của bà, dù rất tiến bộ so với mặt bằng chung nhưng luôn nỗ lực dung hòa giữa cái mới và cũ, giữa tư tưởng phương Tây và đạo đức phương Đông. Bà ủng hộ nữ quyền nhưng vẫn thường đặt nó trong khuôn khổ của gia đình truyền thống, tức là phụ nữ học để làm người vợ hiền, người mẹ thông thái (hiền thê, lương mẫu), chứ chưa hoàn toàn hướng đến việc giải phóng người phụ nữ thành một cá thể độc lập tuyệt đối khỏi những ràng buộc giới. Hoạt động của Nữ công học hội, do chịu ảnh hưởng từ tư duy thượng lưu cung đình, đôi khi còn có một khoảng cách nhất định với tầng lớp phụ nữ lao động bình dân, những người đang vật lộn với đói nghèo và mù chữ ở mức độ cơ bản nhất. Song, nếu khắt khe phê phán những giới hạn này thì có lẽ chúng ta đã quên mất bối cảnh ngạt thở của xã hội thuộc địa nửa phong kiến lúc bấy giờ. Chính những “điểm dừng” chừng mực ấy lại cho thấy một Đạm Phương đầy tinh tế và bản lĩnh. Bà chọn cách “mưa dầm thấm lâu”, thẩm thấu và thay đổi xã hội từ bên trong, như một dòng nước mát nhẹ nhàng len lỏi vào những khe nứt khô cằn của lễ giáo, làm mềm đi những định kiến để mầm non tiến bộ có thể vươn lên.
Cuộc đời của một người tiên phong chưa bao giờ là con đường trải đầy hoa hồng. Vì những hoạt động tiến bộ, tinh thần dân tộc cao cả và mối liên hệ mật thiết với các phong trào yêu nước, Đạm Phương đã trở thành “cái gai” trong mắt chính quyền thực dân Pháp. Năm 1929, bà bị bắt giam và chịu sự quản thúc nghiêm ngặt. Nữ công học hội, đứa con tinh thần mà bà dồn hết tâm huyết, sau đó đã bị giải tán dưới áp lực chính trị nặng nề. Thế nhưng, kẻ thù có thể đóng cửa một văn phòng, nhưng không thể dập tắt một tư tưởng. Ngọn lửa mà bà nhen nhóm đã kịp lan tỏa khắp Bắc, Trung, Nam, trở thành nguồn cảm hứng cho hàng loạt phong trào phụ nữ sau này. Bản lĩnh của người đàn bà hoàng tộc ấy còn thể hiện mạnh mẽ ở cách bà giáo dục gia đình. Bà không chỉ là một nhà hoạt động xã hội, mà còn là một người mẹ vĩ đại. Bà chính là người đã truyền lửa, nuôi dưỡng nên tâm hồn và lý tưởng của nhà lý luận Mác-xít Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Từ dòng máu và tinh thần ấy, người cháu nội của bà, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đã tiếp nối mạch nguồn văn hóa dân tộc để viết nên những vần thơ bất hủ về Đất Nước, về sự trường tồn của nhân dân.
Những năm cuối đời, dù sức khỏe suy giảm và phải sơ tán trong khói lửa kháng chiến chống Pháp, Đạm Phương vẫn không một phút ngơi nghỉ trăn trở cho sự nghiệp giáo dục nhi đồng và nữ giới. Bà qua đời tại Thanh Hóa vào năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Bà ra đi, nhưng hành trang của bà đã kịp tạc vào lịch sử một hình tượng bất khuất. Và có lẽ di sản mà Đạm Phương nữ sử để lại không chỉ hiện hữu ở những tên đường, tên phố trang trọng tại Huế, Hà Nội hay Đà Nẵng. Di sản thực sự của bà nằm trong tâm thức của mỗi phụ nữ Việt Nam hôm nay, những người đang được thừa hưởng thành quả từ những bước chân tiên phong đầy sỏi đá của bà. Tư tưởng khai phóng, coi tri thức là chìa khóa của tự do mà bà để lại vẫn còn nguyên giá trị thời đại, soi sáng con đường khẳng định bản thân của phái đẹp trong một thế giới đầy biến động. Đạm Phương nữ sử mãi mãi là một đóa hoa thơm ngát, một biểu tượng của trí tuệ và lòng dũng cảm trong dòng chảy bất tận của văn hóa Việt Nam.
Thanh Ngân





