Trong dòng chảy cuồn cuộn và đầy biến động của lịch sử văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đứng trước một cuộc chuyển mình đau đớn nhưng tất yếu. Đó là giai đoạn mà những giá trị cũ kỹ, xơ cứng của hệ tư tưởng Nho giáo bắt đầu rạn nứt trước luồng gió mới mạnh mẽ từ phương Tây thổi vào. Giữa sự giao thoa đầy hỗn loạn ấy, Đạm Phương nữ sử là một hiện tượng đặc biệt, một gạch nối kiên cường giữa hai thời đại, người phụ nữ đã tự mình phá vỡ những bức tường ngăn cách của cung đình để bước ra cùng quốc dân đại đồng.

​Xuất thân là Công nữ Đồng Canh, cháu nội vua Minh Mạng và là con gái của Hoằng Hóa Quận vương Miên Triện, bà vốn dĩ được định sẵn một cuộc đời nhung lụa, yên bình nơi cung đình Huế cổ kính. Tuy nhiên, định mệnh đã ban cho bà một tư chất thông minh thiên bẩm cùng sự giáo dục khai phóng từ người cha, một ông hoàng tinh thông cả Hán học lẫn Pháp văn, người đã nhìn thấy sự thay đổi của thời cuộc qua những cuốn sách tân thư. Thay vì an phận trong chốn lầu son gác tía, Đạm Phương đã chọn cho mình một con đường đầy gai góc nhưng vinh quang: dùng ngòi bút để thức tỉnh đồng bào, đặc biệt là những người phụ nữ đang chìm trong đêm tối của hạn chế việc học và định kiến.

​Cái tên Đạm Phương không chỉ là một bút danh thanh tao, mà đã trở thành biểu tượng của một trong những trí thức nữ tiên phong, người đặt những viên gạch đầu tiên cho nền báo chí nữ giới Việt Nam. Vào năm 1918, việc bà công khai xuất hiện trên tạp chí Nam Phong (cơ quan ngôn luận quan trọng nhất bấy giờ), đã gây ra một cơn địa chấn trong giới trí thức. Ở thời điểm mà quan niệm “đàn bà không cần học cao”, “phụ nữ chỉ quanh quẩn xó bếp” vẫn còn thâm căn cố đế, việc một người con gái hoàng tộc cầm bút bàn luận về nhân sinh và xã hội là một hành động dũng cảm tuyệt vời.

​Qua các chuyên mục như “Văn đàn bà” trên tạp chí Hữu Thanh hay “Lời đàn bà” trên Trung Bắc Tân văn, Đạm Phương đã không ngần ngại đặt vấn đề về địa vị của nữ giới một cách hệ thống. Bà thấu thị rằng: muốn được tôn trọng, phụ nữ trước hết phải có tri thức và sự tự lập về kinh tế. Bà viết về việc học chữ Quốc ngữ, về cách chăm sóc con cái theo khoa học, và cả cách phụ nữ phải quan tâm đến vận mệnh đất nước. Những bài báo của bà giống như những hồi chuông cảnh tỉnh, nhẹ nhàng nhưng vang xa, đánh vào tâm lý tự ti của phái yếu và sự bảo thủ của phái mạnh.

​Sự nghiệp văn chương của bà không chỉ dừng lại ở những bài nghị luận sắc sảo mang tính thời sự mà còn lấn sân sang cả địa hạt tiểu thuyết, một thể loại còn khá mới mẻ đối với các tác giả nữ lúc bấy giờ. Cuốn tiểu thuyết Kim Tú Cầu, ra đời vào những năm 1920, được xem là một trong những tác phẩm văn xuôi Quốc ngữ đầu tiên của nữ giới Việt Nam. Qua những trang viết đẫm chất nhân văn nhưng cũng đầy tính phê phán, bà khéo léo lồng ghép tư tưởng về hôn nhân tự do, một chủ đề cực kỳ nhạy cảm và táo bạo.

​Trong Kim Tú Cầu, Đạm Phương phê phán sự áp đặt nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến hủ bại, nơi những cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” đã bóp nghẹt hạnh phúc của bao kiếp người. Nhân vật của bà thường là những người phụ nữ có ý thức về cái tôi, khao khát được làm chủ vận mệnh chính mình. Qua đó, bà khẳng định rằng gia đình chỉ có thể bền vững khi dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải trên những xiềng xích của giáo điều cũ kỹ.

​​Tầm vóc của Đạm Phương nữ sử thực sự rực rỡ và vượt thoát khỏi hình ảnh một “văn nhân” đơn thuần khi bà bước từ bàn viết ra thực tiễn xã hội. Năm 1926, một dấu mốc vàng son trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam được xác lập: bà sáng lập Nữ công học hội tại Huế. Đây là một mô hình giáo dục phụ nữ mang tính cách mạng và thực tiễn sâu sắc. Tại Nữ công học hội, Đạm Phương đã hiện thực hóa triết lý giáo dục của mình. Bà thấu hiểu rằng lý thuyết suông sẽ không thể thay đổi được cuộc đời những người phụ nữ nếu họ không có phương tiện để sinh tồn. Vì vậy, bà tổ chức dạy chị em cách thêu thùa, nấu nướng, may vá để họ có cái nghề “lận lưng”, tạo dựng sự tự chủ về kinh tế là một trong những cái gốc của sự tự do.

Bà mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ, ngoại ngữ và tổ chức những buổi diễn thuyết định kỳ. Những buổi diễn thuyết ấy chính là nơi khai mở tư duy, nơi những khái niệm về quyền con người, về lòng yêu nước và trách nhiệm công dân được truyền thụ một cách tự nhiên. Bà quan niệm rất rõ rằng: “Nếu một nửa nhân loại không có học thức thì thế giới không thể tiến bộ”. Tinh thần nhân bản và tầm nhìn xa trông rộng ấy đã khiến những bậc đại chí sĩ, những linh hồn của phong trào yêu nước như cụ Phan Bội Châu hay Huỳnh Thúc Kháng cũng phải nghiêng mình kính trọng. Cụ Phan từng dành cho bà những lời tán tụng chân thành nhất, coi bà là một người đồng chí, một người bạn đường tin cậy trong sự nghiệp khai dân trí, chấn dân khí.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách công tâm dưới lăng kính lịch sử và xã hội học, hành trình của Đạm Phương nữ sử cũng mang những giới hạn khó tránh khỏi của tầng lớp và thời đại mà bà sinh sống. Tư tưởng của bà, dù rất tiến bộ so với mặt bằng chung nhưng luôn nỗ lực dung hòa giữa cái mới và cũ, giữa tư tưởng phương Tây và đạo đức phương Đông. Bà ủng hộ nữ quyền nhưng vẫn thường đặt nó trong khuôn khổ của gia đình truyền thống, tức là phụ nữ học để làm người vợ hiền, người mẹ thông thái (hiền thê, lương mẫu), chứ chưa hoàn toàn hướng đến việc giải phóng người phụ nữ thành một cá thể độc lập tuyệt đối khỏi những ràng buộc giới. Hoạt động của Nữ công học hội, do chịu ảnh hưởng từ tư duy thượng lưu cung đình, đôi khi còn có một khoảng cách nhất định với tầng lớp phụ nữ lao động bình dân, những người đang vật lộn với đói nghèo và mù chữ ở mức độ cơ bản nhất. Song, nếu khắt khe phê phán những giới hạn này thì có lẽ chúng ta đã quên mất bối cảnh ngạt thở của xã hội thuộc địa nửa phong kiến lúc bấy giờ. Chính những “điểm dừng” chừng mực ấy lại cho thấy một Đạm Phương đầy tinh tế và bản lĩnh. Bà chọn cách “mưa dầm thấm lâu”, thẩm thấu và thay đổi xã hội từ bên trong, như một dòng nước mát nhẹ nhàng len lỏi vào những khe nứt khô cằn của lễ giáo, làm mềm đi những định kiến để mầm non tiến bộ có thể vươn lên.

​Cuộc đời của một người tiên phong chưa bao giờ là con đường trải đầy hoa hồng. Vì những hoạt động tiến bộ, tinh thần dân tộc cao cả và mối liên hệ mật thiết với các phong trào yêu nước, Đạm Phương đã trở thành “cái gai” trong mắt chính quyền thực dân Pháp. Năm 1929, bà bị bắt giam và chịu sự quản thúc nghiêm ngặt. Nữ công học hội, đứa con tinh thần mà bà dồn hết tâm huyết, sau đó đã bị giải tán dưới áp lực chính trị nặng nề. Thế nhưng, kẻ thù có thể đóng cửa một văn phòng, nhưng không thể dập tắt một tư tưởng. Ngọn lửa mà bà nhen nhóm đã kịp lan tỏa khắp Bắc, Trung, Nam, trở thành nguồn cảm hứng cho hàng loạt phong trào phụ nữ sau này. Bản lĩnh của người đàn bà hoàng tộc ấy còn thể hiện mạnh mẽ ở cách bà giáo dục gia đình. Bà không chỉ là một nhà hoạt động xã hội, mà còn là một người mẹ vĩ đại. Bà chính là người đã truyền lửa, nuôi dưỡng nên tâm hồn và lý tưởng của nhà lý luận Mác-xít Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Từ dòng máu và tinh thần ấy, người cháu nội của bà, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đã tiếp nối mạch nguồn văn hóa dân tộc để viết nên những vần thơ bất hủ về Đất Nước, về sự trường tồn của nhân dân.

​Những năm cuối đời, dù sức khỏe suy giảm và phải sơ tán trong khói lửa kháng chiến chống Pháp, Đạm Phương vẫn không một phút ngơi nghỉ trăn trở cho sự nghiệp giáo dục nhi đồng và nữ giới. Bà qua đời tại Thanh Hóa vào năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Bà ra đi, nhưng hành trang của bà đã kịp tạc vào lịch sử một hình tượng bất khuất. Và có lẽ ​di sản mà Đạm Phương nữ sử để lại không chỉ hiện hữu ở những tên đường, tên phố trang trọng tại Huế, Hà Nội hay Đà Nẵng. Di sản thực sự của bà nằm trong tâm thức của mỗi phụ nữ Việt Nam hôm nay, những người đang được thừa hưởng thành quả từ những bước chân tiên phong đầy sỏi đá của bà. Tư tưởng khai phóng, coi tri thức là chìa khóa của tự do mà bà để lại vẫn còn nguyên giá trị thời đại, soi sáng con đường khẳng định bản thân của phái đẹp trong một thế giới đầy biến động. Đạm Phương nữ sử mãi mãi là một đóa hoa thơm ngát, một biểu tượng của trí tuệ và lòng dũng cảm trong dòng chảy bất tận của văn hóa Việt Nam.

Thanh Ngân

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh