Vào cuối thế kỷ mười sáu, khi đất nước Đại Việt còn chìm trong khói lửa phân tranh, có một vùng đất nhỏ tên Kiệt Đặc ở huyện Chí Linh. Sáng sớm nơi ấy mù sương bảng lảng, chiều đến tiếng chuông chùa văng vẳng vọng từ bên kia sông Kinh Thầy. Dân trong vùng phần nhiều sống bằng nghề nông, nhưng truyền thống hiếu học vẫn sâu đậm tự ngàn xưa.

Trong làng có một bé gái tên Nguyễn Thị Duệ, hiệu Diệu Huyền, ra đời vào một đêm tháng ba năm Giáp Ngọ (1574). Cha nàng vốn là nhà nho nghèo, mẹ mất sớm, song cha hết lòng dạy con chữ nghĩa, mong gieo được hạt giống trí tuệ giữa thời loạn. Từ nhỏ, Duệ đã tỏ ra khác thường. Lên bốn tuổi đã biết viết, sáu tuổi đọc thông Tứ Thư, mười tuổi thuộc làu Kinh Nghĩa. Gương mặt nàng thanh tú, da trắng, ánh mắt trong như nước suối.

Nhưng buổi ấy là thời “trọng nam khinh nữ”, con gái khó bề bước vào trường ốc. Cha nàng, tuy thương con, cũng đành thở dài:

“Thân là nữ nhi, há dễ công danh chi lộ?”

Nàng nghe, chỉ cúi đầu, song trong lòng đã ngấm một ngọn lửa. Sau, vì thế cuộc biến loạn, nhà Mạc rút lên Cao Bằng, cha con nàng cũng theo về vùng biên viễn. Một hôm, nàng thưa với cha:

“Nếu con không được học, suốt đời con chẳng yên.”

Ông im lặng hồi lâu rồi gật đầu. Thế là Nguyễn Thị Duệ cắt tóc, đổi áo, lấy tên Nguyễn Văn Du, cải trang thành nam nhi để theo học.

Người ta kể rằng buổi đầu đến trường, thấy “anh học trò mới” da trắng, giọng thanh, bạn học đều lấy làm lạ, có kẻ trêu chọc. Nhưng càng học, Văn Du càng tinh thông, văn chương của chàng khiến ai nấy đều khâm phục. Nàng học mười năm không nghỉ, thông cả Hán Nôm.

Năm Giáp Ngọ (1594), triều Mạc mở khoa thi Hội ở Cao Bằng. Nguyễn Văn Du đỗ đầu. Trong buổi yến mừng tân khoa, vua Mạc Kính Cung thấy vị tiến sĩ trẻ tuổi, da trắng như tuyết, ánh mắt long lanh, giọng đọc nhẹ nhàng thanh tao, chợt sinh nghi. (Tương truyền đêm trước, vua nằm mộng thấy vì sao rơi xuống sân rồng, ánh sáng rực rỡ, trong sao có hình người con gái.) Tỉnh dậy, lòng còn vương điềm lạ. Nay thấy người đỗ đầu có dung mạo phi thường, vua bèn gọi đến đối đáp. Văn Du ứng khẩu thao thao, lời lẽ uyển chuyển. Vua càng ngờ, nói:

“Khanh quả là bậc tài tử, nhưng trong mắt trẫm lại thấy bóng dáng thục nữ.”

Nghe vậy, nàng quỳ xuống, tự biết không thể giấu, bèn tâu:

“Thần vốn phận nữ nhi, giả trai để học, chỉ mong đem chút trí nhỏ đền ơn đất nước.”

Theo luật triều Mạc, giả mạo thân phận để dự khoa cử là trọng tội. Nhưng vua Mạc vốn yêu người hiền, lại cảm mến chí khí lạ thường, nên tha tội, giữ nguyên học vị, và cho ở lại kinh giúp việc học chính. Nàng được giao dạy lễ nghi, thơ văn cho phi tần và công chúa. Từ đây, tên tuổi Nguyễn Thị Duệ lừng danh khắp vùng biên địa.

Một năm nọ, vào đêm, vua Mạc cùng các quan bàn việc nước, chợt thấy một chòm sao sáng rực phía Chí Linh. Có người bảo đó là “Sao Sa”, điềm phúc chiếu vào nhân tài. Vua nghe, cười rằng:

“Có lẽ trời ban điềm ấy cho người con gái thông tuệ kia chăng?” 

Tục truyền, sau đó vua phong cho nàng hiệu Tinh Phi, dân gian gọi là Bà Chúa Sao Sa.

Song vận nước xoay vần. Đến năm 1625, quân Lê – Trịnh đánh lên Cao Bằng, nhà Mạc thất thế. Nàng cùng những người trung nghĩa vào rừng ẩn náu. Khi bị quân Trịnh bắt, nàng vẫn bình thản cầm gươm nói:

“Ta là người có học, trung với đạo, chẳng phản. Nếu muốn bắt, cứ đưa ta về gặp chúa các ngươi; còn vô lễ, ta tự kết liễu.”

Nghe khí phách ấy, binh lính chẳng dám khinh nhờn. Khi giải về kinh, chúa Trịnh Tráng đọc tờ khải trình, biết nàng là người Chí Linh, từng đỗ đầu dưới triều Mạc, bèn cho vào phủ. Gặp mặt, chúa Trịnh thấy dung mạo đoan trang, học thức uyên bác, liền trọng đãi. Trước tiên phong làm Cung Trung Giáo tập, rồi thăng Lễ Nghi Học Sĩ, giữ việc dạy học và biên tập văn thư cho phủ chúa.

Sau, vì tài năng và đạo hạnh, nàng lại được tiến cử vào cung vua Lê Thần Tông, giữ chức Nghi Ái Quan, dân gian quen gọi là Chiêu Nghi. Trong cung, nàng thường cùng hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đàm đạo văn chương, hai người tâm giao như chị em, cùng mở lớp dạy nữ quy, khuyến học khắp phủ chúa.

Một lần, vua Lê cho mở khoa thi Hội năm Đức Long thứ ba (1631). Có thí sinh chỉ làm bốn mục trong mười hai đề, song lời văn thanh nhã, tứ ý cao xa. Các khảo quan ngờ ngợ, cho rằng bài chưa đủ phép. Khi trình lên, vua giao cho các học sĩ bình định. Nguyễn Thị Duệ đọc kỹ, rồi nói:

“Văn hay chẳng ở nhiều lời. Kẻ này tuy viết ngắn, nhưng chữ nào cũng tinh, chẳng khác người luyện bút lâu năm.”

Sau, thí sinh ấy quả đỗ tiến sĩ, đúng như lời bà đoán. Từ ấy, tiếng tăm Nghi Ái Quan càng lẫy lừng, ai cũng khâm phục con mắt tinh tường của bậc nữ hiền.

Những năm sau, thế cuộc lại dậy sóng. Bà nhiều lần dâng sớ khuyên vua giữ nhân tâm, lo dân trước, lo quyền sau. Vua Lê cảm phục, phong thêm hàm cố vấn văn học. Dẫu ở chốn cung đình hoa lệ, bà vẫn giữ nếp thanh bạch: mỗi ngày tụng kinh, viết sách, dạy học trò. Bà từng soạn hai tập thơ Ni tần thi tập và Gia phả diễn ca, trong đó có câu:

“Hiềm vì một chút đảo điên, Song le Bạc thị lại duyên Hán Hoàng.”

Câu thơ vừa tự trào, vừa bộc lộ nỗi lòng người nữ bị cuốn theo thế sự.

Khi tuổi đã xế chiều, bà xin cáo lão hồi hương. Vua và chúa đều tiếc, ban cho ruộng lộc điền ở quê Kiệt Đặc, miễn sưu phu thuế khóa để bà dạy học. Về làng, bà dựng Am Đào Hoa, lập Chí Linh Văn Hội, mở lớp cho sĩ tử nghèo. Mỗi khi có khoa cử, bà cho đề thi gửi về kinh, tự tay chấm lấy, lời phê nghiêm mà thấu tình. Dân gian truyền rằng nhờ vậy mà nhiều học trò nơi biên ải đỗ đạt, làm rạng đất Chí Linh. Ngoài dạy học, bà còn khuyên dân làm điều thiện, trồng cây, giữ nếp hương hỏa. Người làng ai cũng kính, gọi bà là Cụ Giáo Từ, hoặc Bà Sao Sa. Mỗi độ xuân về, bà ra hiên đọc Luận Ngữ, giảng nghĩa “trung dung”.

Năm Giáp Tuất (1654), bà lâm bệnh nặng. Đêm ấy, trời Chí Linh sáng rực một vệt sao, kéo dài qua sông Kinh Thầy rồi tan dần trong mây. Dân gian bảo:

“Sao Sa quy thiên.”

Năm ấy, bà hưởng thọ tám mươi mốt tuổi. Triều đình ban sắc phong, đúc tượng, dựng Tinh Phi cổ tháp ở Kiệt Đặc, khắc mười chữ:

“Lễ sư sinh thông tuệ, nhất kính chiếu tam vương.”

Nghĩa là: “Người thầy lễ nghi sáng suốt, một cái nhìn soi tỏ ba vua.” Ngôi tháp ấy về sau được xếp trong Chí Linh Bát Cổ.

Tên Nguyễn Thị Duệ cũng được khắc ở Văn Miếu Mao Điền, cùng các bậc hiền nho đất Việt. Ở Hải Dương và Hà Nội, có những con đường mang tên và tượng đồng của bà đứng cạnh các bậc tiên hiền, như vì sao vẫn còn sáng trên vòm trời văn hiến. Người đời nay khi nhắc đến Bà Chúa Sao Sa, không chỉ nhớ về nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, mà còn về một linh hồn tự do, biến học vấn thành ngọn đuốc soi đường.

Nghĩ lại trong cõi thế, chữ học vốn không phải của riêng nam nhân. Đạo trời sinh ra người, ban cho ai cũng một khối linh minh; chỉ vì thế tục khi ấy đặt định, nên nữ nhi phải giấu ánh sáng của mình sau song cửa. Nguyễn Thị Duệ, thân là gái, mà dám cải trang thi thố, vượt qua lễ tục — chẳng phải đã dùng trí tuệ để tự mở một lối cho hậu thế đó sao? Người đời thường khen bà “tài”, nhưng cái quý nhất lại là “nghĩa”: lúc thịnh được trọng, lúc nguy không khuất; khi rơi vào tay kẻ thù vẫn giữ phong độ, chẳng để nhục thân. Ấy là cái học đã nhập vào khí tiết, không còn chỉ nằm trên trang sách.

(Truyện dựa trên các ghi chép lịch sử về Nguyễn Thị Duệ – nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, người Chí Linh, Hải Dương. Các chi tiết được tham khảo từ Đại Việt sử ký toàn thư, tư liệu Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ và giai thoại dân gian. Những yếu tố như điềm sao lạ, thơ ứng khẩu, lời nói với quân Trịnh, hay hình ảnh “chấm bài từ xa” là hư cấu nhằm khắc họa tinh thần, không thay đổi bản chất sự kiện.)

Thanh Ngân