Vào cuối thế kỷ mười sáu, khi đất nước Đại Việt còn chìm trong khói lửa phân tranh, có một vùng đất nhỏ tên Kiệt Đặc ở huyện Chí Linh. Sáng sớm nơi ấy mù sương bảng lảng, chiều đến tiếng chuông chùa văng vẳng vọng từ bên kia sông Kinh Thầy. Dân trong vùng phần nhiều sống bằng nghề nông, nhưng truyền thống hiếu học vẫn sâu đậm tự ngàn xưa.

Trong làng có một bé gái tên Nguyễn Thị Duệ, hiệu Diệu Huyền, ra đời vào một đêm tháng ba năm Giáp Ngọ (1574). Cha nàng vốn là nhà nho nghèo, mẹ mất sớm, song cha hết lòng dạy con chữ nghĩa, mong gieo được hạt giống trí tuệ giữa thời loạn. Từ nhỏ, Duệ đã tỏ ra khác thường. Lên bốn tuổi đã biết viết, sáu tuổi đọc thông Tứ Thư, mười tuổi thuộc làu Kinh Nghĩa. Gương mặt nàng thanh tú, da trắng, ánh mắt trong như nước suối.

Nhưng buổi ấy là thời “trọng nam khinh nữ”, con gái khó bề bước vào trường ốc. Cha nàng, tuy thương con, cũng đành thở dài:

“Thân là nữ nhi, há dễ công danh chi lộ?”

Nàng nghe, chỉ cúi đầu, song trong lòng đã ngấm một ngọn lửa. Sau, vì thế cuộc biến loạn, nhà Mạc rút lên Cao Bằng, cha con nàng cũng theo về vùng biên viễn. Một hôm, nàng thưa với cha:

“Nếu con không được học, suốt đời con chẳng yên.”

Ông im lặng hồi lâu rồi gật đầu. Thế là Nguyễn Thị Duệ cắt tóc, đổi áo, lấy tên Nguyễn Văn Du, cải trang thành nam nhi để theo học.

Người ta kể rằng buổi đầu đến trường, thấy “anh học trò mới” da trắng, giọng thanh, bạn học đều lấy làm lạ, có kẻ trêu chọc. Nhưng càng học, Văn Du càng tinh thông, văn chương của chàng khiến ai nấy đều khâm phục. Nàng học mười năm không nghỉ, thông cả Hán Nôm.

Năm Giáp Ngọ (1594), triều Mạc mở khoa thi Hội ở Cao Bằng. Nguyễn Văn Du đỗ đầu. Trong buổi yến mừng tân khoa, vua Mạc Kính Cung thấy vị tiến sĩ trẻ tuổi, da trắng như tuyết, ánh mắt long lanh, giọng đọc nhẹ nhàng thanh tao, chợt sinh nghi. (Tương truyền đêm trước, vua nằm mộng thấy vì sao rơi xuống sân rồng, ánh sáng rực rỡ, trong sao có hình người con gái.) Tỉnh dậy, lòng còn vương điềm lạ. Nay thấy người đỗ đầu có dung mạo phi thường, vua bèn gọi đến đối đáp. Văn Du ứng khẩu thao thao, lời lẽ uyển chuyển. Vua càng ngờ, nói:

“Khanh quả là bậc tài tử, nhưng trong mắt trẫm lại thấy bóng dáng thục nữ.”

Nghe vậy, nàng quỳ xuống, tự biết không thể giấu, bèn tâu:

“Thần vốn phận nữ nhi, giả trai để học, chỉ mong đem chút trí nhỏ đền ơn đất nước.”

Theo luật triều Mạc, giả mạo thân phận để dự khoa cử là trọng tội. Nhưng vua Mạc vốn yêu người hiền, lại cảm mến chí khí lạ thường, nên tha tội, giữ nguyên học vị, và cho ở lại kinh giúp việc học chính. Nàng được giao dạy lễ nghi, thơ văn cho phi tần và công chúa. Từ đây, tên tuổi Nguyễn Thị Duệ lừng danh khắp vùng biên địa.

Một năm nọ, vào đêm, vua Mạc cùng các quan bàn việc nước, chợt thấy một chòm sao sáng rực phía Chí Linh. Có người bảo đó là “Sao Sa”, điềm phúc chiếu vào nhân tài. Vua nghe, cười rằng:

“Có lẽ trời ban điềm ấy cho người con gái thông tuệ kia chăng?” 

Tục truyền, sau đó vua phong cho nàng hiệu Tinh Phi, dân gian gọi là Bà Chúa Sao Sa.

Song vận nước xoay vần. Đến năm 1625, quân Lê – Trịnh đánh lên Cao Bằng, nhà Mạc thất thế. Nàng cùng những người trung nghĩa vào rừng ẩn náu. Khi bị quân Trịnh bắt, nàng vẫn bình thản cầm gươm nói:

“Ta là người có học, trung với đạo, chẳng phản. Nếu muốn bắt, cứ đưa ta về gặp chúa các ngươi; còn vô lễ, ta tự kết liễu.”

Nghe khí phách ấy, binh lính chẳng dám khinh nhờn. Khi giải về kinh, chúa Trịnh Tráng đọc tờ khải trình, biết nàng là người Chí Linh, từng đỗ đầu dưới triều Mạc, bèn cho vào phủ. Gặp mặt, chúa Trịnh thấy dung mạo đoan trang, học thức uyên bác, liền trọng đãi. Trước tiên phong làm Cung Trung Giáo tập, rồi thăng Lễ Nghi Học Sĩ, giữ việc dạy học và biên tập văn thư cho phủ chúa.

Sau, vì tài năng và đạo hạnh, nàng lại được tiến cử vào cung vua Lê Thần Tông, giữ chức Nghi Ái Quan, dân gian quen gọi là Chiêu Nghi. Trong cung, nàng thường cùng hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đàm đạo văn chương, hai người tâm giao như chị em, cùng mở lớp dạy nữ quy, khuyến học khắp phủ chúa.

Một lần, vua Lê cho mở khoa thi Hội năm Đức Long thứ ba (1631). Có thí sinh chỉ làm bốn mục trong mười hai đề, song lời văn thanh nhã, tứ ý cao xa. Các khảo quan ngờ ngợ, cho rằng bài chưa đủ phép. Khi trình lên, vua giao cho các học sĩ bình định. Nguyễn Thị Duệ đọc kỹ, rồi nói:

“Văn hay chẳng ở nhiều lời. Kẻ này tuy viết ngắn, nhưng chữ nào cũng tinh, chẳng khác người luyện bút lâu năm.”

Sau, thí sinh ấy quả đỗ tiến sĩ, đúng như lời bà đoán. Từ ấy, tiếng tăm Nghi Ái Quan càng lẫy lừng, ai cũng khâm phục con mắt tinh tường của bậc nữ hiền.

Những năm sau, thế cuộc lại dậy sóng. Bà nhiều lần dâng sớ khuyên vua giữ nhân tâm, lo dân trước, lo quyền sau. Vua Lê cảm phục, phong thêm hàm cố vấn văn học. Dẫu ở chốn cung đình hoa lệ, bà vẫn giữ nếp thanh bạch: mỗi ngày tụng kinh, viết sách, dạy học trò. Bà từng soạn hai tập thơ Ni tần thi tập và Gia phả diễn ca, trong đó có câu:

“Hiềm vì một chút đảo điên, Song le Bạc thị lại duyên Hán Hoàng.”

Câu thơ vừa tự trào, vừa bộc lộ nỗi lòng người nữ bị cuốn theo thế sự.

Khi tuổi đã xế chiều, bà xin cáo lão hồi hương. Vua và chúa đều tiếc, ban cho ruộng lộc điền ở quê Kiệt Đặc, miễn sưu phu thuế khóa để bà dạy học. Về làng, bà dựng Am Đào Hoa, lập Chí Linh Văn Hội, mở lớp cho sĩ tử nghèo. Mỗi khi có khoa cử, bà cho đề thi gửi về kinh, tự tay chấm lấy, lời phê nghiêm mà thấu tình. Dân gian truyền rằng nhờ vậy mà nhiều học trò nơi biên ải đỗ đạt, làm rạng đất Chí Linh. Ngoài dạy học, bà còn khuyên dân làm điều thiện, trồng cây, giữ nếp hương hỏa. Người làng ai cũng kính, gọi bà là Cụ Giáo Từ, hoặc Bà Sao Sa. Mỗi độ xuân về, bà ra hiên đọc Luận Ngữ, giảng nghĩa “trung dung”.

Năm Giáp Tuất (1654), bà lâm bệnh nặng. Đêm ấy, trời Chí Linh sáng rực một vệt sao, kéo dài qua sông Kinh Thầy rồi tan dần trong mây. Dân gian bảo:

“Sao Sa quy thiên.”

Năm ấy, bà hưởng thọ tám mươi mốt tuổi. Triều đình ban sắc phong, đúc tượng, dựng Tinh Phi cổ tháp ở Kiệt Đặc, khắc mười chữ:

“Lễ sư sinh thông tuệ, nhất kính chiếu tam vương.”

Nghĩa là: “Người thầy lễ nghi sáng suốt, một cái nhìn soi tỏ ba vua.” Ngôi tháp ấy về sau được xếp trong Chí Linh Bát Cổ.

Tên Nguyễn Thị Duệ cũng được khắc ở Văn Miếu Mao Điền, cùng các bậc hiền nho đất Việt. Ở Hải Dương và Hà Nội, có những con đường mang tên và tượng đồng của bà đứng cạnh các bậc tiên hiền, như vì sao vẫn còn sáng trên vòm trời văn hiến. Người đời nay khi nhắc đến Bà Chúa Sao Sa, không chỉ nhớ về nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, mà còn về một linh hồn tự do, biến học vấn thành ngọn đuốc soi đường.

Nghĩ lại trong cõi thế, chữ học vốn không phải của riêng nam nhân. Đạo trời sinh ra người, ban cho ai cũng một khối linh minh; chỉ vì thế tục khi ấy đặt định, nên nữ nhi phải giấu ánh sáng của mình sau song cửa. Nguyễn Thị Duệ, thân là gái, mà dám cải trang thi thố, vượt qua lễ tục — chẳng phải đã dùng trí tuệ để tự mở một lối cho hậu thế đó sao? Người đời thường khen bà “tài”, nhưng cái quý nhất lại là “nghĩa”: lúc thịnh được trọng, lúc nguy không khuất; khi rơi vào tay kẻ thù vẫn giữ phong độ, chẳng để nhục thân. Ấy là cái học đã nhập vào khí tiết, không còn chỉ nằm trên trang sách.

(Truyện dựa trên các ghi chép lịch sử về Nguyễn Thị Duệ – nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, người Chí Linh, Hải Dương. Các chi tiết được tham khảo từ Đại Việt sử ký toàn thư, tư liệu Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ và giai thoại dân gian. Những yếu tố như điềm sao lạ, thơ ứng khẩu, lời nói với quân Trịnh, hay hình ảnh “chấm bài từ xa” là hư cấu nhằm khắc họa tinh thần, không thay đổi bản chất sự kiện.)

Thanh Ngân

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh