Năm Minh Mạng nguyên niên, tức năm 1820, Việt Nam trải qua một trận đại dịch thường được cho là dịch tả, với quy mô gần như chưa từng có trong lịch sử. Dịch khởi phát từ Hà Tiên, lan qua Vĩnh Thanh, Định Tường, trùm khắp Nam Kỳ, rồi dần dần tràn lên phía Bắc. Từ phương Nam đến kinh thành Phú Xuân, từ Phú Xuân ra Bắc Thành, người qua đời nằm xuống theo từng làng, từng trấn, từng phủ.

Trận đại dịch ấy khiến cả nước đảo lộn. Triều đình hoảng hốt phát chẩn, tổ chức khám chữa bệnh. Vua Minh Mệnh cho rằng tai biến này có phần lỗi ở mình, nên phải làm lễ cầu đảo. Các nha môn thì thống kê tử vong trong bất lực. Chỉ riêng châu bản triều Nguyễn về báo cáo của Bắc Thành đã ghi tổng số người chết trong đại dịch năm 1820 lên tới 114.282 người! Còn con số tử vong trên toàn quốc được quyết toán lần cuối ghi nhận là 206.835 người! Một con số đọc lên đã đủ khiến người đời sau rùng mình.

Đọc đến đó thôi, ta đã có thể hình dung một cõi nhân gian xám đặc. Tiếng khóc trong nhà dân. Tiếng mõ ở chùa. Tiếng quan quân chạy dịch. Tiếng người sống gọi tên người chết. Cái chết khi ấy chẳng chọn nhà nghèo hay nhà giàu, cũng chẳng nể dân thường hay quan lớn. Một khi ôn dịch đã đi qua cửa, mọi địa vị, phẩm hàm, văn chương, danh tiếng đều trở nên mỏng như giấy.

Giữa trận dịch ấy, ở kinh thành Huế, có một người cũng ngã bệnh.

Người ấy là đại thi hào Nguyễn Du.

***

Khi ấy, Nguyễn Du đang giữ chức Hữu tham tri bộ Lễ. Ông vừa được triều đình chọn làm Chánh sứ sang nhà Thanh thêm một lần nữa. Nếu mọi chuyện diễn ra bình thường, ông sẽ lại lên đường. Biết đâu, văn học Việt Nam sẽ có những dòng mới trong “Bắc hành tạp lục” giữa đường thiên lý.

Thế rồi, dịch bệnh gọi tên ông. Và lần này, Nguyễn Du không đi sứ nữa. Ông khởi hành khỏi cõi tạm.

Giai thoại về những giờ phút cuối cùng của Nguyễn Du được chép rất ngắn. Ngắn đến mức đọc lên thấy lạnh: Khi bệnh đã nặng, ông không chịu uống thuốc. Người nhà ở bên, hẳn còn lo lắng, còn hy vọng, còn muốn níu lại. Ông chỉ bảo người nhà sờ tay chân mình. Người nhà sờ rồi thưa rằng tay chân đã lạnh. Nguyễn Du nghe xong, chỉ nói một chữ. Một chữ thôi:

“Tốt!”

Rồi mất. Không dặn dò hậu sự. Không gửi gắm vợ con. Không nói lời oán thán. Không có một bài thơ tuyệt mệnh bi tráng. Chỉ một chữ “tốt”, khép lại đời một đại thi hào.

Nghe qua, thật khó hiểu! Đây là Nguyễn Du cơ mà. Đây là người đã để lại 3.254 câu thơ Kiều. Đây là người đã viết những “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Nam trung tạp ngâm”, “Thanh Hiên thi tập”, “Bắc hành tạp lục”… Đây là người có thể nhìn một phận người rồi nghe thấy trong đó cả tiếng thở dài của trăm năm phân tranh. Một người viết về Thúy Kiều mà khiến bao thế hệ phải đau cùng nàng. Một người viết về những cô hồn không nơi nương tựa mà khiến tiếng khóc tháng Bảy vang ra khỏi cửa chùa, đi vào tận đáy lòng người đọc. Một người có nhiều chữ đến vậy, thương đời đến vậy, đau cùng thiên hạ đến vậy. Ấy vậy mà sao đến khi chính mình nằm xuống, ông chỉ để lại đúng một chữ “Tốt”.

Nghịch lý nằm ở đó. Và chính nghịch lý ấy làm cho cái chết của Nguyễn Du càng ám ảnh.

***

Muốn hiểu một chữ ấy, có lẽ phải nhìn lại đời Nguyễn Du.

Ông sinh ra trong dòng họ đại quý tộc Nguyễn Tiên Điền. Đây là dòng họ đời đời vinh hiển và tài năng tới mức nhân dân xứ Nghệ – Tĩnh còn có câu ca dao ngưỡng vọng:

“Bao giờ Ngàn Hống hết cây,

Sông Rum hết nước họ này hết quan”

Nếu sinh nhằm thời yên ổn, Nguyễn Du có thể đi một con đường rất đẹp: học hành, thi cử, làm quan, để lại danh tiếng như một bậc danh sĩ quyền quý. Tiếc thay, ông sinh đúng lúc thời cuộc bắt đầu long trời lở đất. Nhà Lê suy tàn. Phủ chúa Trịnh mục ruỗng. Tây Sơn nổi lên. Bắc Hà đổi chủ. Gia đình ly tán. Cái trật tự mà Nguyễn Du sinh ra và nương náu vào đó sụp xuống ngay trước mắt ông. Một công tử con nhà thế gia phút chốc trở thành kẻ lạc loài giữa thời cuộc. Đời ông có một quãng thường được gọi là “mười năm gió bụi”. Nghe thì đẹp theo kiểu văn chương, song phía sau là phiêu bạt, bệnh tật, nghèo túng, nương nhờ và trôi dạt.

Chính những năm tháng ấy khiến Nguyễn Du khác hẳn kiểu nhà nho chỉ đứng trên cao để giảng đạo. Ông bị đời xô xuống sát mặt đất. Ông hiểu nỗi nhục của kẻ có tài mà bất lực. Ông hiểu nỗi đau của người muốn giữ phẩm giá mà thời thế cứ bắt phải cúi đầu. Ông hiểu cảm giác sống giữa hai bờ trung nghĩa, nơi quay bên nào cũng thấy một vết thương. Vì thế, khi viết về phận người, Nguyễn Du không viết bằng lòng thương vay mượn. Ông viết bằng phần đời đã bị bão dâu cày qua.

Cho nên Truyện Kiều mới có sức ám ảnh đến vậy. Tác phẩm có thể mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng cái hồn của nó là hồn Nguyễn Du. Ông nhìn Thúy Kiều mà thấy tài sắc đi cùng tai họa. Ông nhìn Từ Hải mà thấy giấc mộng anh hùng có thể chết đứng giữa cuộc cờ chính trị. Ông nhìn Đạm Tiên mà thấy thân phận người đẹp sau cùng cũng chỉ còn là nấm đất, là kiếp “ma không chồng”. Cả thế giới ấy hiện ra như một chợ đời, nơi lương tri có khi rất đắt, còn thân phận người thì rẻ rúng vô cùng. Nguyễn Du viết nhiều vì ông nghe, thấy và hiểu quá nhiều tiếng lòng đau thương của người khác.

Vậy tại sao người ấy lại trăn trối ngắn đến thế? Có lẽ vì đến cuối đời, Nguyễn Du đã viết quá nhiều rồi. Người đời có câu: “Con chim sắp chết, tiếng kêu ai oán; con người sắp chết, lời nói khôn ngoan”. Nguyễn Du thì khác. Ông đã nói điều gan ruột suốt cả đời, rải đều trong từng tác phẩm. Thế nên đến phút cuối, ông chẳng cần bày biện một câu đẹp để hậu thế trầm trồ. Ông chỉ kiểm tra xem thân xác mình đã đi đến đâu trong lộ trình cuối cùng. Tay chân đã lạnh. Sự sống đã rút dần. Chuyến đi đã tới. Một chữ “tốt” vì thế nghe vừa khô, vừa lạnh, vừa lạ lùng với hậu thế. Còn với ông, có lẽ thế đã là một đoạn kết đẹp sau tất cả rồi.

***

Điều đáng nói là sự lặng lẽ ấy lại khiến người còn sống hoảng sợ tột độ.

Người sợ đầu tiên hẳn là người nhà. Một người thân đang bệnh nặng mà từ chối uống thuốc, ai có thể bình tĩnh được? Khi ông bảo sờ tay chân, chắc họ đã hiểu điều gì sắp xảy ra. Khi nghe chữ “tốt”, nỗi bàng hoàng ấy càng lớn hơn. Bởi cái “tốt” của người sắp mất đâu có giống cái “tốt” của người khỏe mạnh. Nó giống một tiếng gõ cửa từ bên kia, rất khẽ, rất bình thản. Chính vì bình thản nên càng đáng sợ.

Rồi đến triều đình. Nguyễn Du lúc ấy là Hữu tham tri bộ Lễ, đại thần được quyền kề cận bên vua. Vua Minh Mệnh thương tiếc, ban tiền bạc, lễ vật. Các quan đến phúng viếng. Một đời tài hoa rời sân khấu chính trị đúng lúc triều đình cần người đi Thanh triều giữ thể diện quốc gia. Cái chết ấy cũng nhắc tất cả quan viên, hoàng thất rằng dịch bệnh chẳng chừa một tầng lớp nào.

Rồi đến họ hàng thân thích Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Hành, người cháu đồng thời là bạn thơ, đã khóc Nguyễn Du bằng những câu đau xót. Câu hỏi của ông, đại ý rằng “dịch lệ sao có thể làm chú mất nhanh đến thế?”, nghe chẳng hẳn như một câu hỏi y học. Nó là tiếng kêu của tình thân. Một người thương người tài thường khó chấp nhận rằng tài hoa cũng có thể tắt vì một cơn bệnh như bao người khác. Người đời thường muốn cái chết của thiên tài phải có gì đó khác thường, phải tương xứng với tầm vóc của người ấy.

Thế mà Nguyễn Du mất giữa một trận dịch làm bao dân thường cũng mất. Cái chết ấy kéo đại thi hào xuống cùng hàng với muôn người. Người đã viết cho muôn người, sau cùng lại chết giữa tai họa của muôn người. Chẳng có đặc quyền nào cứu ông khỏi thân phận chung. Chẳng có văn chương nào khiến dịch bệnh nể nang. Chẳng có chức tước nào ngăn được hơi lạnh bò lên tay chân. Cái chết ấy phũ phàng, nhưng cũng khiến Nguyễn Du gần hơn với chính thế giới ông từng thương xót. Nói cho cùng, Nguyễn Du thuộc về những ai từng bị đời đẩy vào một chỗ không thể nói hết bằng lời.

***

Vậy nên chữ “tốt” kia, càng nghĩ càng lạ. Nó chỉ là tiếng đáp rất nhỏ của một người đã quá hiểu cuộc đời. Như thể Nguyễn Du nói rằng: thôi, đến đây được rồi! Một kiếp người đã đủ gió bụi. Một đời chữ nghĩa đã đủ gửi lại. Thân xác đã lạnh thì cứ để nó lạnh. Việc còn lại, hãy để thơ nói tiếp.

Và thơ đã nói tiếp thật. Hơn hai trăm năm sau, người ta vẫn đọc Truyện Kiều, vẫn ngâm nga “Văn tế thập loại chúng sinh” trong mỗi mùa Vu Lan báo hiếu. Những câu thơ ấy đi qua bao nhiêu nhiễu nhương trong suốt hơn 200 năm qua, mạnh mẽ và bền bỉ hơn chức tước của ông, hơn những phúng điếu triều đình, hơn cả nỗi hoảng hốt của người nhà trong buổi ông rời cõi tạm.

Ngày Nguyễn Du mất, dịch bệnh vẫn chưa được dập hoàn toàn. Hậu thế khi ấy chưa biết mình vừa mất đi điều gì. Chỉ có ông, trong khoảnh khắc cuối, dường như đã đi qua nỗi sợ ấy. Một chữ buông ra: “Tốt.” Thế là người viết Truyện Kiều rời khỏi nhân gian. Còn nhân gian thì ở lại, cầm lấy Truyện Kiều mà đọc tiếp, rồi tự hỏi mãi về tài mệnh, nhân tình, bạc ác, lòng thương, và cái giá của kiếp người.

Ngô Tiến Vinh