Đối với phần lớn học trò ngày xưa, muốn được thầy khen một câu đã khó. Muốn thầy đánh giá là đạt trình độ đi thi thì còn là một đỉnh cao cần phải trui rèn miệt mài hơn nữa. Nhưng tới cỡ thầy vừa nghe một câu đối đã đứng bật dậy, chỉ thẳng vào mình mà tuyên bố:
– Trạng nguyên của ta đây rồi!
thì có lẽ ngoài tài học, người học trò ấy còn phải tức cảnh đọc một câu thật kêu để cả thiên nhiên cùng phụ họa.
Thế mà Hoàng Văn Tán đã làm được cả ba việc ấy.
***
Chuyện bắt đầu ở làng Xuân Lôi, huyện Vũ Ninh, xứ Kinh Bắc vào đầu thế kỷ XVI. Hoàng Văn Tán sinh trưởng trong một gia đình nghèo. Người nhà không có sẵn ruộng học, tiền học hay một tủ sách cao quá đầu người để cậu ung dung bước vào đường khoa cử.
Một hôm, mẹ Tán đi chợ ở làng Thị Cầu, tình cờ gặp đám rước vinh quy bái tổ của một vị tiến sĩ làng Kim Đôi. Mẹ Tán đứng nhìn, trong lòng vừa ngưỡng mộ vừa tủi thân. Bà cũng mong một ngày con trai mình được học hành, thi đỗ, làm nên danh phận. Khổ nỗi nhìn lại cảnh nhà, mong ước ấy dường như xa xỉ chẳng kém gì mong có vàng rơi từ trên trời xuống.
Về đến nhà, bà kể chuyện đám rước cho con nghe rồi buồn bã than thở. Cậu bé Hoàng Văn Tán nghe xong lại chẳng hề thấy việc ấy xa vời. Cậu sà vào lòng mẹ, nói chắc nịch:
– Con mà được đi học thì con còn đỗ cao hơn!
May thay! Người mẹ không cho đó là chuyện trẻ con nói chơi. Bà nhìn thấy trong lời quả quyết ấy một niềm ham học thật sự, bèn quyết tâm tìm thầy cho con. Nghe tiếng thầy đồ làng Vị, tức vùng Phương Vĩ ngày nay, là người nổi tiếng hay chữ, bà dẫn Tán đến xin nhập môn.
Thầy đồ nhận cậu, song chưa cho ngồi vào lớp ngay. Thầy muốn thử tính kiên nhẫn, lại thấy cậu còn nhỏ, gia cảnh lại nghèo, chưa biết học lực đến đâu nên trước hết giao cho làm những việc lặt vặt: quét nhà, dọn lớp, đun nước, hầu điếu đóm. Trong khi hơn chục môn sinh ngồi ngay ngắn nghe giảng, Tán chỉ quanh quẩn ngoài cửa, tay làm việc mà tai cố nghe từng lời. Thầy giảng trong nhà, Tán nghe ngoài bếp. Học trò cầm sách đọc thành tiếng, Tán vừa nhóm lửa vừa ghi vào đầu. Cậu nghe đến đâu nhớ đến đó, dần dần thuộc bài chẳng kém những người đã được ngồi chiếu trong lớp, thậm chí có phần còn nhanh hơn.
***
Cơ hội để cậu bước từ gian bếp vào lớp học đến vào một ngày có người đưa con tới xin học. Cụ Chánh trong vùng mang lễ vật đến, trên mâm có xôi đầy đặn. Mấy con ruồi chẳng hiểu lễ nghĩa trường học, thấy mâm xôi ngon lành liền bay tới đậu. Thầy đồ nhìn cảnh ấy, thuận miệng ra một vế đối để thử tài học trò:
– Ruồi đỗ mâm xôi, mâm xôi đỗ.
Tưởng chỉ là câu tả mấy con ruồi vô duyên mà chơi chữ cực khủng khiếp ở chữ “đỗ”. “Ruồi đỗ” là con ruồi đáp xuống. “Mâm xôi đỗ” lại có thể hiểu là mâm xôi nấu với đỗ. Cùng một chữ xuất hiện hai lần, âm giống nhau mà nghĩa chuyển đổi rất tự nhiên. Vế ra đã ngắn, lại lấy ngay cảnh vật trước mắt, muốn đối chỉnh chẳng dễ chút nào. Cả lớp im phăng phắc. Những môn sinh ngày thường đọc kinh sách sang sảng bỗng đồng loạt ngắm mâm xôi như mong con ruồi nào đó biết làm câu đối hộ. Thầy đồ chờ một lúc, thấy chẳng ai lên tiếng, chỉ còn biết lắc đầu.
Đúng lúc ấy, từ dưới bếp có một cậu bé chạy lên, trên tay vẫn xách siêu nước đang bốc khói. Hoàng Văn Tán kính cẩn xin phép được đối. Thầy gật đầu cho thử. Tán liền đọc:
– Kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò.
Vế đối bật ra gọn như thể đã nằm sẵn trong miệng.
“Ruồi” đối với “kiến”, “đỗ” đối với “bò”, “mâm xôi” đối với “đĩa thịt”. Ở vế dưới, chữ “bò” cũng mang hai nghĩa: kiến bò trên đĩa thịt, còn đĩa thịt kia lại là thịt bò. Ý đối ý, chữ đối chữ, cảnh vật cũng gần gũi như vế của thầy. Cậu bé Tán khi ấy chẳng cần lôi Tứ thư Ngũ kinh ra làm gì. Chỉ cần nhìn quanh một mâm cơm, cậu đã khiến cả lớp phải phục.
Thầy đồ nghe xong giật mình lần thứ nhất. Từ hôm ấy, Hoàng Văn Tán được chính thức được vào học đàng hoàng trong lớp. Cậu tiến bộ rất nhanh. Gia cảnh nghèo khiến Tán càng hiểu cơ hội này quý giá. Cậu ngày đêm luyện chữ, học văn, dùi mài kinh sử.
***
Năm sau đó, triều đình mở khoa thi. Lớp học của thầy đồ có nhiều môn sinh đã theo học từ lâu. Theo lẽ thường, thầy chọn những người lớn tuổi hơn, học rộng hơn, có kinh nghiệm hơn để lên kinh ứng thí. Hoàng Văn Tán mới nhập học chưa bao lâu nên không được ghi tên. Trong lúc các môn sinh được chọn sửa soạn hành trang, trời bỗng đổ mưa. Mưa rơi lác đác ngoài sân. Thầy đồ nhân cảnh vật trước mắt, lại muốn khảo tài học trò lần cuối, liền ra một vế đối:
– Lác đác mưa sa làng Vị Vũ.
“Vị Vũ” vừa nhắc tới làng Vị, quê thầy, vừa là các chữ Hán tả cảnh mưa đang rơi. Câu đối nhẹ, thanh, rải ra từng tiếng như chính những hạt nước ngoài hiên.
Cả lớp lại im lặng.
Có lẽ hôm ấy, những người sắp lên kinh thi bắt đầu thấy hơi lo. Chưa rời khỏi cửa nhà thầy mà đã hai lần chịu thua câu đối, ra đến trường thi không biết còn gặp những đề hiểm hóc đến đâu.
Từ phía sau, Hoàng Văn Tán lại xin đối. Thầy cho phép. Cậu đọc lớn:
– Ầm ầm sấm động đất Xuân Lôi.
Nếu vế của thầy nhẹ như mưa rơi, vế của Tán nổ vang như sấm. “Lác đác” đối với “ầm ầm”, “mưa sa” đối với “sấm động”, “làng Vị Vũ” đối với “đất Xuân Lôi”. Vị Vũ là quê thầy, Xuân Lôi là quê trò. Một bên mưa nhỏ, một bên sấm lớn. Đến tên quê của Tán cũng có chữ “Lôi”, nghĩa là sấm, khiến câu đối càng thêm đắc địa.
Chuyện xưa kể rằng Tán vừa dứt lời, trên trời liền lóe chớp rồi một tiếng sấm lớn vang lên. Thiên nhiên có thật sự biết lựa đúng lúc để phụ họa hay người đời sau đã thêm tiếng sấm cho câu chuyện kịch tính hơn, ngày nay khó lòng xác định. Dẫu sao, thầy đồ nghe câu đối ấy đã vô cùng sung sướng, lập tức reo lên:
– Trạng nguyên của ta đây rồi!
Lời tiên đoán ấy cuối cùng trở thành sự thật. Khoa Quý Mùi, niên hiệu Thống Nguyên thứ hai, đời vua Lê Cung Hoàng, năm 1523, Hoàng Văn Tán đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, tức Trạng nguyên. Khoa thi lấy đỗ ba mươi sáu người, ông đứng đầu bảng. Hoàng Văn Tán về sau làm quan qua buổi giao thời giữa nhà Lê sơ và nhà Mạc, lên đến chức Tả thị lang Bộ Lễ. Sự nghiệp chính trị của ông nằm trong một giai đoạn đầy biến động, khi ngôi vua nhà Lê chuyển sang tay Mạc Đăng Dung. Các ghi chép còn lại về cuộc đời ông khá ít, song danh hiệu Trạng nguyên khoa Quý Mùi năm 1523 thì vẫn được lưu truyền.
***
Đứa trẻ từng đứng ngoài cửa học lỏm nay đã bước lên vị trí cao nhất của khoa thi. Người mẹ từng chỉ dám đứng nhìn đám rước vinh quy của người khác cuối cùng có thể chứng kiến chính con trai mình làm được điều năm xưa cậu đã nói. Còn trong trí nhớ dân gian, người ta nhớ Hoàng Văn Tán qua hai câu đối thuở thiếu thời. Về sau, dân gian còn khéo léo rút ngắn câu từ để cho ra một câu đối còn khó tới mức rất lâu sau mới có thể có một cặp thầy – trò nào tự nghĩ ra được dạng câu tương tự rồi đánh đố nhau:
“Ruồi đỗ mâm xôi đỗ (hoặc “ruồi đậu mâm xôi đậu”);
Kiến bò đĩa thịt bò.”
Có thể, tiếng sấm Xuân Lôi năm ấy chỉ là phần trang sức mà người đời sau gắn thêm vào giai thoại. Thế nhưng điều cốt lõi của câu chuyện lại rất thật: tài năng đôi khi không ngồi ở vị trí dễ nhìn thấy nhất. Nó có thể đang ở ngoài cửa lớp, cầm chổi quét sân, xách siêu nước, lặng lẽ nghe bài giảng qua một bức vách. Chỉ cần người thầy chịu cho cậu bé ấy một lần cất tiếng, một vị Trạng nguyên tương lai liền bước ra khỏi gian bếp.
Ngô Tiến Vinh





