Nói đến Lê Quý Đôn, người ta thường nghĩ ngay đến một pho sách biết đi của thế kỷ XVIII. Thế nhưng, nếu chỉ nhớ Lê Quý Đôn có vậy, thì vẫn mới chỉ thấy một nửa con người ông. Bởi ngoài dáng dấp của một trí tuệ lớn, trong nhiều giai thoại để đời, ông còn hiện lên như một bậc thầy ứng đối: biết nói lúc cần nói, biết im lúc cần im, biết đùa khi cái đùa có thể cứu một cuộc vui. Và đôi khi, biết mượn tiếng cười để tát thẳng vào mặt một kẻ đáng ghét mà hắn mà vẫn khó lòng kêu đau. Trong những giai thoại truyền tụng về tài ứng khẩu của Lê Quý Đôn, có một pha “xéo xắt” rất bác học: xéo xắt của một người quen dùng chữ nghĩa như dùng dao bổ cau, nhát chém tưởng nhẹ, mà bổ xuống đâu là “tách đôi” tới đó.

***

Giai thoại truyền lại rằng:

Một hôm, sau buổi thiết triều, vì việc bàn bạc còn sớm, bách quan vẫn có mặt đông đủ. Chúa Trịnh Sâm muốn làm nhẹ không khí nơi phủ chúa, bèn đặt ra một lệ chơi: các quan thay phiên nhau phải ứng khẩu kể một câu chuyện vui. Ai kể được chuyện khiến mọi người cùng cười thì được thưởng. Ai kể nhạt, làm cuộc vui đang định nở ra bỗng co rúm lại, thì sẽ bị phạt. Tất nhiên là phạt có lệ thôi, chứ chẳng lẽ ở đời ai lại đem quan ra trị tội vì kể chuyện kém duyên.

Nghe qua thì có vẻ nhẹ nhàng. Ngoài quán nước, ngoài sân đình, trong đêm rượu, trong cuộc trà, người Việt ta vốn đâu thiếu chuyện để cười. Song đem một câu chuyện vui vào giữa phủ chúa lại là việc khác. Ở nơi ấy, tiếng cười cũng có phép tắc riêng. Đùa nhạt thì mất mặt. Đùa quá đà thì dễ mất đầu. Đụng đến chúa là nguy. Đụng đến phe cánh quyền thần cũng nguy. Đụng đến thói xấu trong triều đình càng nguy, vì thói xấu thường có chủ nhân, mà chủ nhân của thói xấu lại hay có tai mắt.

Bởi vậy, khi lệ vừa ban ra, ngoài mặt thì các quan hưởng ứng, trong bụng lại bắt đầu cân nhắc. Ai kể trước? Kể chuyện gì? Cười ai? Cười đến đâu? Cười xong liệu thân mình có an toàn không?… Thấy bách quan cứ đưa mắt nhìn nhau trong khó xử, đến chúa Trịnh Sâm cũng thấy cái vui của mình bắt đầu gượng gạo. Sợ cuộc vui mới đặt ra đã hóa thành cuộc thi nhìn nhau, chúa bèn vừa cười vừa chỉ ngay vào Lê Quý Đôn, nhà bác học của thời đại, bảo ông khai cuộc.

Nhiều người trong triều lập tức lo thay cho ông. Học rộng là một chuyện, ứng khẩu kể chuyện vui lại là chuyện khác. Có người đọc cả vạn quyển sách, song mở miệng pha trò lại khiến thiên hạ thấy thương hơn thấy buồn cười. Huống hồ đây là kể trước mặt chúa. Ấy vậy mà Lê Quý Đôn vẫn nhận lời. Ông kể một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, nghe bên ngoài tưởng như chỉ mượn tích “cá chép vượt vũ môn” để khích lệ sĩ tử chăm chỉ học hành. Song càng nghe, bách quan càng nhận ra dưới lớp vỏ ngụ ngôn ấy có một mũi kim rất hiểm, đang chĩa về phía một người cũng có mặt trong buổi chầu hôm đó.

***

Ông kể rằng:

“Từ ngày xưa, trời có lệ hằng năm mở khoa thi ‘vượt vũ môn’. Các loài cá nếu vượt được vũ môn thì sẽ hóa thành rồng, bay đi tới miền cực lạc. Năm ấy, cá chép, cá rô, cá trê đều có mặt để ứng thí. Giữa lúc ấy, một chú cóc cũng chuẩn bị hành trang, tấp tểnh lên đường.

Khi cả bốn tới cửa trường thi, viên lực sĩ đứng canh nhìn thấy cóc thì ngạc nhiên quá, bèn quát to:

– Này tên cóc kia, bụng da to sù, đi lại còn khật khưỡng, làm sao lại dám đến ứng thí, không sợ thiên hạ trông thấy thì ôm bụng mà cười cho à?

Cóc vốn đã liều, lại thêm cái thói cãi ngang. Nó vênh mặt, trợn mắt hỏi lại viên lực sĩ:

– Này, chẳng cứ gì ta đâu. Thế ta hỏi: tại sao anh cá rô bé nhỏ kia cũng còn vào đây thi được?

Viên lực sĩ đáp:

– Cá rô tuy bé nhỏ, nhưng còn có vây cứng vảy chắc, có thể giương lên mà vượt qua thác được.

Cóc chưa chịu thua. Nó lại hỏi tiếp:

– Cứ cho là như thế. Nhưng còn anh cá trê người mềm oằn oặt, thì không sợ bị nước cuốn trôi đi à?

Viên lực sĩ lại đáp:

– Người cá trê tuy mềm, nhưng lại có đuôi dài và khỏe, như thế toàn bộ thân thể có thể uốn lượn theo dòng thác mà lên.

Đến đây thì cóc bí. Rô, trê, chép đều có cái sở trường để thử sức với dòng thác. Riêng cóc, thân thể cục mịch, lớn lên lại quen nhảy nhót trên bờ hơn là vẫy vùng dưới nước, thì lấy gì để vượt vũ môn?

Bí lý, cóc bèn đấu dịu:

– Chẳng giấu gì anh lực sĩ. Ngày trước tôi sinh ra vốn cũng có đuôi như anh cá trê, nhưng về sau muốn được lên bờ để hầu hạ người nên đã tự làm đứt đuôi đấy, vì thế khi xuống nước bơi lội cũng có kém. Xin anh hãy nể tình cho tôi vào. Nay gọi là có chút quà, mong anh nhận giúp.

Viên lực sĩ lúc đầu còn lắng nghe, có lẽ cũng muốn xem con cóc kia định giở trò gì. Song đến đoạn “có chút quà”, ông ta lập tức nổi cơn tam bành, quát thẳng vào mặt cóc:

– Xéo ngay!

Nói rồi, viên lực sĩ chĩa ngọn giáo ra, làm cho cóc được một phen hú vía, đành chuồn thẳng.”

Câu chuyện chỉ có vậy. Nhưng giữa phủ chúa hôm ấy, chẳng ai ngây thơ đến mức chỉ nhìn thấy một con cóc. Cả triều đình ban đầu im phăng phắc, dõi theo từng lời kể tưởng như thản nhiên của Lê Quý Đôn. Đến đoạn cóc nói mình “ngày xưa cũng có đuôi”, rồi vì muốn lên bờ hầu hạ người nên tự làm đứt đuôi, vài cặp mắt đã bắt đầu liếc về phía viên hoạn quan Thái Thịnh. Khi ấy, Thái Thịnh đang cầm chiếc quạt lông đứng cạnh chúa Trịnh Sâm, thỉnh thoảng lại giơ lên phe phẩy, cái dáng điệu có vẻ như trong phủ chúa này, không có hắn thì gió cũng chẳng biết thổi theo hướng nào.

Đến đoạn cóc chìa “chút quà” ra xin xỏ, tiếng cười đã rúc rích ở vài hàng quan phía dưới. Rồi khi viên lực sĩ trong chuyện quát một tiếng “Xéo ngay!”, cái im lặng giữ phép trong phủ chúa bỗng vỡ tung. Tiếng cười bật ra, lan nhanh từ hàng quan này sang hàng quan khác, cho tới khi chính chúa Trịnh Sâm cũng bật cười. Một khi chúa đã cười, bách quan khỏi cần giữ nữa. Cả phủ chúa như được dịp xả một nỗi bực bội đã nén từ lâu.

Riêng viên hoạn quan Thái Thịnh thì chỉ còn biết đứng nghiêm. Chiếc quạt lông trên tay buông thõng. Đại đa số các quan đều biết lai lịch và con đường tiến thân của hắn. Trong lòng họ vốn đã muốn có dịp cho hắn một phen bẽ mặt. Vì vậy, câu chuyện của Lê Quý Đôn vừa dứt, tiếng cười mới khoái trá đến thế.

***

Muốn hiểu vì sao cú đâm ấy làm cả triều đình hả hê, chỉ cần nhớ một điều: trong cung đình xưa, hoạn quan tuy mang phận kẻ hầu, lại có khi đứng sát quyền lực hơn cả đại thần. Họ ở trong nội phủ, gần vua chúa, làm việc tại hậu cung, gần những lời riêng mà quan lại bên ngoài khó nghe được. Một đại thần muốn tâu việc còn phải đợi buổi chầu, qua lễ nghi, qua phẩm trật. Một kẻ thân cận trong cung đôi khi chỉ cần nói đúng một câu, đúng lúc  cảm xúc của vua chúa đang cao thấp thất thường là cũng đủ làm nghiêng ngả một quyết định.

Bởi thế, hoạn quan thường bị giới quan lại nhìn bằng con mắt khó chịu. Quan văn có khoa bảng, quan võ có chiến công. Còn hoạn quan nhiều khi bị xem là đi lên bằng con đường thân cận nô bộc. Nói theo ý Tạ Chí Đại Trường, đó là kiểu “tôi đòi và quyền lực”: thân phận tưởng thấp, song ở sát người cầm quyền nên có lúc lại nắm được ảnh hưởng rất lớn. Cái ghét dành cho họ vì thế vừa có phần định kiến thân phận, vừa có phần bực bội trước một lối tiến thân bị xem là thấp hèn.

Có thế mới thấy cái hay của Lê Quý Đôn trong vụ bịa sự tích này là ông chẳng cần gọi tên Thái Thịnh. Ông chỉ mượn sự phát triển tự nhiên của con cóc để ghép chuyện. Thế là đủ. Cả phủ chúa hiểu. Thái Thịnh càng hiểu. Khổ nỗi, hắn chẳng biết phản ứng thế nào. Nổi giận thì khác gì tự nhận mình là cóc. Cười theo thì nhục. Im lặng thì phải đứng yên cho tiếng cười của bách quan rơi lộp bộp xuống đầu.

***

Thế mới thấy, người học rộng mà lại có duyên thì đáng sợ thật. Họ không cần chửi thẳng. Họ chỉ kể chuyện. Mà kể xong, người bị kể đến bỗng thấy đất dưới chân mình không còn vững nữa. Với Lê Quý Đôn, ngay cả lúc “xéo xắt”, cái xéo xắt ấy cũng có lớp lang, có ý nhị, có đòn thế hẳn hoi. Giữa phủ chúa hôm ấy, chắc chắn bách quan đã được một phen hả hê. Còn Thái Thịnh thì đứng chết trân. Đắt hơn cả, chuyện còn khiến người đời sau nhớ mãi: có những lời mắng không cần gọi tên, vì chỉ cần kể đúng chuyện, “con cóc” trong chuyện tự khắc biết mình là ai.

Ngô Tiến Vinh