Lương Thế Vinh.

Cuộc đời của ông, nói không ngoa, là một pho chuyện mà chính sử lẫn dã sử đều dày đặc chương hồi. Nếu chỉ nhìn ông qua hào quang Trạng nguyên, qua những giai thoại giải toán, đối đáp tài tình với vua Lê Thánh Tông, người ta dễ quên rằng trước khi thành một cái tên lớn, ông cũng từng là một chàng trai trẻ. Cũng từng rung động. Cũng từng tin vào một mối duyên. Và thậm chí, cũng từng thất tình, không chỉ một, mà tới tận hai lần!

Mà cái sự thất tình của người có chữ thời xưa nó hay lắm! Người thường đau thì than. Người có chữ đau thì làm thơ. Người thường giận thì bỏ đi. Người có chữ giận cũng bỏ đi, nhưng trước khi bỏ đi còn để lại một vài bài từ biệt, khiến thiên hạ mấy trăm năm sau vẫn còn trầm trồ ngồi giải nghĩa từng câu. Vụ chia tay bằng thơ ở phố Hàng Đào này chính là một trong hai mối tình ngang trái như vậy. Nó để lại cái đau tưởng rất riêng, mà vẫn rất muôn thuở: cái đau của một tình yêu đã bị đặt lên bàn cân công danh.

***

Tương truyền, sau khi đỗ thi Hương, Lương Thế Vinh về kinh đô Thăng Long ôn luyện thêm kinh sách, chờ ngày vào thi Hội. Trong số những nho sinh, văn sĩ mới quen biết, có một người nhà ở Hàng Đào rất khâm phục danh tiếng của chàng thanh niên được mệnh danh là thần đồng đất Sơn Nam nên một mực mời về nhà mình. Chính tại ngôi nhà ấy, Lương Thế Vinh gặp Thị Liệu, em gái của bạn.

Nàng là tiểu thư đất kinh kỳ, có nhan sắc xinh đẹp, lại được học hành chu đáo, biết chữ nghĩa, thơ phú, hội họa. Một chàng nho sinh trẻ tuổi đang trên đường khoa bảng, được dự báo sẽ đỗ đầu, gặp một cô gái tài sắc vẹn toàn giữa chốn Thăng Long, chỉ cần nghe qua đã thấy có đủ keo loan để kết thành một mối duyên đẹp.

Ban đầu, mọi việc dường như rất xuôi chèo mát mái. Gia đình cô gái quý Lương Thế Vinh. Người bạn cũng có ý vun vào. Thị Liệu tỏ ra có tình ý. Lương Thế Vinh cũng đã có chút xao xuyến. Nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, có lẽ nó đã thành một cuộc tình đẹp mà đời nào cũng ao ước: trai tài, gái sắc, thơ văn làm mối, kinh kỳ làm phông.

Tiếc rằng, chuyện hay trong dân gian thường bắt đầu từ việc kịch bản bị bẻ lái sang một hướng mà người trong cuộc cảm thấy khó chịu hơn.

***

Đến lúc Lương Thế Vinh phải từ biệt Thị Liệu để trở về quê lấy thêm tiền gạo, đồng thời cũng tính đến chuyện thưa gửi với mẹ cha về việc trăm năm. Có lẽ trong hoàn cảnh ấy, ông chờ một lời hẹn, hoặc chí ít một câu nói khiến lòng người đi xa được yên. Một câu kiểu như: chàng cứ yên tâm đèn sách, thi cử rồi mọi chuyện sẽ tính. Chỉ một câu ấy thôi cũng đủ để người lên đường thấy mình có thêm chốn quay về.

Thế nhưng ,Thị Liệu lại không nói lời khích lệ nào theo cách thông thường. Đổi lại, cô trao cho ông một bài thơ không đề bằng chữ Hán:

Thủ huề lợi phủ hưởng sơn lâm,

Nhất nhất tiều phu nhật nhập thâm.

Yên hạ hoành đao từ bộ chí,

Phương môn môn nội hữu tình nhân.

Nghĩa là:

Tay cầm búa sắc vượt rừng sâu,

Một gã tiều phu chẳng đợi lâu.

Lưng giắt ngang đao thong thả bước,

Cửa vuông, trong cửa đón yêu nhau.

Bài thơ đọc qua là đã thấy giống một bài giải đố chữ hơn là một lời tiễn biệt, toàn là “búa sắc”, “rừng sâu”, “tiều phu”, “ngang đao”, “cửa vuông”. Mà trong tình yêu, đôi khi điều đáng sợ nhất lại là người ta nói với nhau bằng ẩn ý quá nhiều. Nói thẳng thì còn biết đường mà trả lời thẳng. Nói bóng gió thì người nhận phải tự hiểu. Mà một khi đã hiểu rồi, nỗi buồn thường còn sâu hơn.

“Cửa vuông” ở đây chính là cửa trường thi Hội. Nói một cách hình ảnh, vượt qua cửa này, một nho sinh sẽ đỗ Tiến sĩ, trở thành “ông Nghè”, bước vào hàng khoa bảng. Không mất nhiều thì giờ để Lương Thế Vinh hiểu ngay dụng ý của bài thơ. Muốn đi tới đích cuối của hôn nhân, trước hết ông phải chạm đến đích cuối của con đường học vấn đã.

Nếu nhìn thật công bằng, Thị Liệu cũng chưa chắc là người bạc bẽo. Nàng là con gái một gia đình khá giả ở đất kinh kỳ. Hôn nhân thời ấy đâu chỉ là chuyện hai người có cảm tình với nhau. Nó còn là chuyện gia phong, danh phận, tương lai, lời ăn tiếng nói của họ hàng. Một cô gái có học, có nhan sắc, lại sống trong môi trường Thăng Long, hẳn cũng hiểu rất rõ giá trị của công danh. Yêu một chàng nho sinh có tài là một chuyện. Trao cả đời mình cho một người chưa qua cửa thi Hội lại là chuyện khác. Nàng có thể đã thích Lương Thế Vinh thật. Nhưng cái thích ấy vẫn cần một đợt vinh quy bái tổ của cuộc đời để bảo đảm.

***

Chỉ tiếc rằng người nhận bài thơ lại là Lương Thế Vinh, một người trẻ có tài, có tự trọng, lại đang ở đúng thời điểm nhạy cảm nhất trước khoa thi lớn. Ông hiểu ngay ý của cô gái. Nàng say mê không hẳn chỉ vì con người ông, mà còn vì danh vọng ông có thể đạt được. Cái đau ở đây nằm ở việc Lương Thế Vinh chưa phải người thất bại, mà mới chỉ là chưa thành công. Vậy mà tình yêu đã được đặt sẵn một điều kiện. Nó giống như có ai đó đứng ở ngưỡng cửa, mỉm cười rất duyên dáng, rồi bảo: chàng cứ đi đi, khi nào mang được vinh quang về, cánh cửa này sẽ mở. Một lời như thế, nếu dành cho người hiếu thắng thì có thể là động lực. Nhưng với người đang ước một tình yêu chân chính, nó lại thành đòn đánh rất nặng vào nội tâm.

Suy nghĩ chốc lát, Lương Thế Vinh viết một bài thơ tứ tuyệt họa lại gửi nàng:

Hà lao tâm lực nhập sơn lâm

Thế vấn xuân quang sắc thiểu thâm.

Bất dụng yên đao nguyên nhật chỉ,

Kinh sư bất thiểu hữu tình nhân.

Nghĩa là:

Cần chi vất vả tới rừng sâu,

Thử hỏi ngày xuân được bấy lâu?

Giữa hội chẳng cần đao dẫu quý

Kinh kỳ nào thiếu kẻ yêu nhau.

Nàng dùng thơ để đặt điều kiện. Ông dùng thơ để dứt tình. Nàng nói bằng hình ảnh “cửa vuông”. Ông đáp bằng lý lẽ “Kinh kỳ nào thiếu kẻ yêu nhau”. Nghe qua tưởng nhẹ, nhưng bên trong là một câu rất đau: nếu tình yêu ở đây cần quá nhiều điều kiện, thì ở đất kinh kỳ này, đâu thiếu người biết yêu theo cách khác. Ông không mắng, không trách, không làm ầm lên như một người bị xúc phạm. Ông chỉ dùng chính lối thơ mà Thị Liệu đã chọn để trả lại câu trả lời của mình.

Nói theo cách đời thường hơn, Lương Thế Vinh đã chọn rút lui khi chưa đội mũ Trạng nguyên. Điều đó mới làm câu chuyện có giá trị. Bởi nếu ông đỗ rồi mới quay lại kiêu hãnh, lời từ chối ấy có thể bị xem là một màn trả đũa. Nhưng ông rời đi khi còn đang là nho sinh chờ thi, chưa có hào quang để khiến người khác tiếc. Ông chỉ có lòng tự trọng của một người hiểu rằng tình yêu một khi đã phải cân đo quá sớm thì giữ lại lại hóa thành tự cùm mình.

***

Thế là từ đó, cuộc đời của cả hai cũng trở về như hai đường thẳng song song. Thị Liệu dần biến mất khỏi dòng chảy giai thoại và lịch sử Việt Nam. Còn Lương Thế Vinh cũng không bao giờ qua lại nhà cô gái ấy nữa. Ông quên hẳn mối duyên tình này để lo cho chuyện thi cử.

Rồi trớ trêu thay, ông đỗ Trạng nguyên khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông. Nói cách khác, điều kiện mà Thị Liệu đặt ra, Lương Thế Vinh đạt được thật. Chỉ có điều, người được hưởng danh vợ Trạng không phải là cô ấy. Giai thoại mối tình phố Hàng Đào vì thế mới trở nên bất hủ. Nó đâu có dừng lại là chuyện một chàng nho sinh giận một cô tiểu thư. Nó để lại một mớ mệnh đề rất cũ trong tình yêu mà thời nào cũng gặp:

“Người ta yêu một con người, hay yêu tương lai của người ấy?”

“Người ta chọn nhau vì tình cảm hiện tại, hay vì danh phận mai sau?”

Cái lõi của nỗi đau ấy đi qua nhiều thế kỷ, biến đổi biết bao hình dạng mà vẫn chưa hề cũ.

Để rồi, ngày vinh quy bái tổ, tưởng như phải là ngày đẹp nhất của đời trai khoa bảng, lại trở thành giao điểm khiến một mối tình khác trong đời ông biến thành tấn thảm kịch!

Ngô Tiến Vinh