Ở phần trước, mối tình phố Hàng Đào khép lại bằng một cuộc đối đáp thơ. Không nảy lửa, nhưng vẫn chất chứa đầy chua cay của một người trẻ thấy tình yêu bị đặt lên bàn cân công danh. Lương Thế Vinh rời đi khi chưa đội mũ Trạng nguyên. Để rồi về sau, khi ông thật sự đỗ đầu, cái duyên ấy đã thành chuyện cũ.
Thế nhưng trớ trêu thay, chính ngày vinh quy bái tổ ấy lại mở ra một câu chuyện còn thảm kịch hơn. Nếu cuộc tình với Thị Liệu là một vết xước của lòng tự trọng, thì mối duyên với cô đào chèo lại là một vết cắt của phận người. Một bên chia tay bằng thơ. Một bên khép lại bằng tiếng hát tuyệt mệnh, một miếu thờ để xin tha thứ, một tác phẩm kinh điển gửi vào nghệ thuật chèo Việt Nam.
***
Tương truyền, từ thuở còn trẻ, Lương Thế Vinh đã rất mê chèo. Hễ nghe tiếng trống chèo nổi lên ở đâu thì ông khó mà ngồi yên, phải có mặt ở đó bằng được.
“Ăn no rồi lại nằm khoèo
Thấy giục trống chèo, bế bụng đi xem.
Chẳng thèm ăn chả ăn nem
Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo.”
Chuyện kể rằng năm Lương Thế Vinh khoảng hai mươi tuổi, một gánh chèo nổi tiếng về làng Si, gần quê ông, để biểu diễn. Đào chính của gánh chèo là một cô gái thanh sắc vẹn toàn, được người trong vùng mến mộ. Đêm diễn hôm ấy đáng lẽ phải là một đêm hội vui. Dân làng kéo đến đông. Người lớn chờ xem tích hát. Trẻ con chờ tiếng trống, tiếng phách. Những người mê chèo thì chỉ mong mau đến lúc đào kép bước ra sân.
Ấy vậy mà trước giờ diễn, sự cố xảy ra. Người kéo nhị của gánh chèo bỗng bị ốm, chưa có ai thay. Một gánh chèo thiếu tiếng nhị chẳng khác nào câu chuyện thiếu mất linh hồn. Đào có hay đến mấy, kép có khéo đến mấy, mà nhạc đệm thiếu đi tiếng nhị thì chiếu chèo cũng khó trọn vẹn. Chủ gánh luống cuống. Người xem xôn xao. Buổi diễn đứng trước nguy cơ phải hoãn.
Đúng lúc ấy, Lương Thế Vinh xuất hiện, xin được kéo nhị thay. Mà cũng thật là toàn tài! Ông không chỉ nổi tiếng trong đường chữ nghĩa, tính toán, mà đến mảng nghệ thuật cũng chẳng hề giống một tay ngang. Ông kéo nhị thành thạo, ăn khớp với chiếu diễn. Càng chơi càng vào nhịp. Cả gánh hát lẫn người xem đều bất ngờ. Và trên chiếu diễn ấy, cô đào chính cũng hát hay hơn thường lệ. Cả sân khấu bỗng sáng lên. Một ánh mắt, một nhịp phách, một tiếng ngân kéo dài hơn thường lệ, tất cả đều có thể thành lời mà người ngoài khó nghe hết.
“Biển tình mênh mông,
biển tình dâu bể
Sẽ nâng niu ai vững lái chống chèo?”
Rồi cô đào hướng đến người kéo đàn nhị mà rằng:
“Thiếp xin chàng đèn sách văn chương
Dầu hao thiếp rót
Bấc non thiếp ngắt
Ngọn đèn tàn thiếp khâu…”
Với người ngoài, đó có thể chỉ là lời hát trong tích diễn. Với người trong cuộc, e rằng tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Sau buổi diễn, cô đào tìm gặp Lương Thế Vinh để cảm ơn. Hai người trò chuyện tâm đắc, cứ như thể bạn tâm giao lâu rồi mới gặp. Biết Lương Thế Vinh sắp đi thi, nàng không dám thổ lộ. Một phần vì sợ ảnh hưởng đến đường khoa danh của chàng. Một phần vì thân phận mình. Trong xã hội xưa, người làm nghề ca hát thường bị gọi bằng câu rất nghiệt: “xướng ca vô loài”. Tài thì được thưởng thức, tiếng hát thì được vỗ tay, nhưng thân phận lại bị khinh miệt đủ đường.
Đó mới là bi kịch âm thầm. Bao nỗi ái ngại “cọc đi tìm trâu”, mặc cảm phận nghề, rồi nỗi lo chàng trai mình thích sao nhãng con đường công danh… cứ xoắn vào nhau, khiến cô không đủ mạnh dạn. Vì vậy, mối tình ấy chưa kịp nói rõ đã bị để lửng. Cô đào không cho Lương Thế Vinh biết quê quán, tên tuổi. Hôm sau, phường chèo đi diễn nơi khác. Ông đi tìm lại cô đào, nhưng lại không biết tìm ở đâu.
Rồi Lương Thế Vinh đi thi tiếp tục sải những bước dài trên đường khoa bảng. Sau cả giai thoại với nàng Thị Liệu ở phố Hàng Đào, ông chuyên tâm thi cử để trở thành Trạng nguyên.
***
Ngày vinh quy bái tổ của ông hẳn là ngày cả làng nở mặt. Trạng nguyên trở về quê, võng lọng, cờ xí, họ hàng, dân làng, tiếng chúc mừng. Với đời trai khoa bảng, đó là khoảnh khắc rực rỡ nhất. Người xưa vẫn gọi cảnh ấy là đại đăng khoa. Lại thêm chuyện cha mẹ giục ông yên bề gia thất, tiểu đăng khoa đi cùng đại đăng khoa, song hỷ lâm môn, nghe qua đúng là một cái kết hoàn hảo.
Chỉ có điều, đại hôn của một đời người đôi khi lại là đại tang của một mối tình…
Tương truyền, vì vẫn còn thương nhớ cô đào, Lương Thế Vinh từng cố gắng tìm nàng trong vô vọng. Để rồi, khi kết quả không thành, mà mọi người trong nhà đều giục gấp, ông buộc phải nghe theo lời cha mẹ, lấy con gái thầy dạy học, vừa như một nghĩa cử trả ơn thầy, vừa làm vui lòng cha mẹ.
Tấn bi kịch đã đến. Trong ngày làng mở hội tiểu – đại đăng khoa, thật là một sự nghiệt ngã của định mệnh, người ta lại mời đúng gánh chèo của cô đào năm xưa đến hát mừng! Không ai biết chính xác cô đào – quan Trạng đã nghĩ gì trong khoảnh khắc giáp mặt nhau. Giai thoại chỉ kể rằng đêm đó, dù tủi thân, nàng vẫn cố gắng giữ bình tình, hát rất hay, hay đến mức giọng hát nghe sầu thảm, khiến nhiều người rơi lệ. Có lẽ đó là lần cuối cùng nàng đem toàn bộ lòng mình gửi vào chiếu chèo. Sau đêm diễn, người ta không thấy cô đào đâu nữa. Sáng hôm sau, tin dữ truyền ra: đào nương đã quyết định quyên sinh để vĩnh viễn mang theo mối tình đầu trong sáng!
Đớn đau ở chỗ, Lương Thế Vinh cũng chẳng phải người phụ bạc theo nghĩa thông thường. Ông chưa từng hứa hẹn rõ ràng rồi bỏ rơi nàng. Ông cũng từng muốn tìm nàng mà không biết tìm ở đâu. Biết chuyện, Quan Trạng đau xót vô cùng. Ông đích thân làm bài văn tế trong tang lễ của nàng, rồi cho lập một miếu thờ ở đầu làng để hương khói. Miếu ấy về sau được dân gian gọi là miếu Ả Đào. Thôn có ngôi miếu thì gọi là Đào thôn hoặc xóm Đầu. Thậm chí về sau, có những lời bàn rằng cuốn “Hý phường phả lục”, tác phẩm của ông trong lĩnh vực sân khấu chèo, cũng là một nén hương lòng gửi đến nàng.
***
Nhìn lại, mối tình cô đào chèo bi thảm hơn câu chuyện phố Hàng Đào ở chỗ nó chẳng bắt đầu bằng điều kiện, mà kết thúc bằng mặc cảm thân phận. Trạng Lường không hứa hẹn rõ ràng rồi bỏ rơi người ta. Ông cũng không biết nàng ở đâu để tìm. Còn cô đào cũng chưa từng nói hết lòng mình. Hai người chỉ gặp nhau trong một đêm chèo, rồi bị thời gian và thân phận làm cho lạc nhau đến muôn đời.
Nếu chuyện tình với nàng Thị Liệu tan vỡ khi bị sàng lọc qua cánh cửa công danh, thì chuyện tình với cô đào chèo lại trở thành nỗi đau không dứt khi các bên lấy bức tường phận nghiệp ra để tự ngăn nhau. Một người muốn chàng phải đỗ đạt rồi mới mở cửa tình duyên. Một người yêu chàng, nhưng nghĩ mình không xứng để bước vào đời chàng. Hai người phụ nữ, hai cách yêu khác nhau, cùng để lại trong đời ông hai nỗi đau khôn tả.
Cái đẩy cả hai câu chuyện tới bi kịch lại là những thứ lớn hơn: khoa danh, lễ giáo, phân loại phận người trong xã hội xưa, và cả sự im lặng của những tình cảm chưa kịp thành lời. Có những mối tình chết vì bị tính toán quá nhiều. Cũng có những mối tình chết vì chẳng ai dám vượt rào để thổ lộ lòng mình.
Cô đào năm ấy đi vào giai thoại mà không có tên thật. Người đời nhớ nàng bằng nghề nghiệp: cô đào, đào nương, Ả Đào. Đó cũng là một nỗi buồn khác. Một người từng hát hay đến mức làm cả chiếu chèo lặng đi, sau cùng lại chỉ còn được gọi bằng một danh xưng chung. Nhưng biết đâu, chính tiếng gọi ấy cũng làm nàng hóa thành biểu tượng cho biết bao thân phận nghệ sĩ dân gian xưa: tài hoa, đa cảm, đem lòng làm đẹp cho đời, rồi lặng lẽ chịu thiệt về mình vì định kiến “xướng ca vô loài”.
Còn Lương Thế Vinh, sau hai cuộc tình ngang trái, vẫn bước tiếp vào con đường của một bậc đại khoa. Sử sách nhớ ông bằng công danh. Dân gian nhớ ông thêm bằng những giai thoại tình duyên. Một bên là hào quang rực rỡ trong kỷ nguyên Hồng Đức. Một bên là bóng khuất đời tư đã đi vào dã sử. Đặt cạnh nhau, chúng khiến ông hiện lên đầy đủ hơn: không phải pho tượng lạnh trong đền thờ, mà là một con người từng sống, từng yêu, từng sai nhịp, từng đau, và từng để lại sau lưng một tiếng hát chưa dứt.
Vì thế, nếu phần 1 là bài thơ dứt tình với gần như không còn vấn vương ở phố Hàng Đào, thì phần 2 chính là một vở chèo khép lại trong nước mắt. Một người con gái không kịp thành tri kỷ, một ông Trạng không kịp giữ lời hẹn chưa từng nói ra, và một chiếu chèo từ chỗ mua vui cho làng xóm bỗng trở thành sân khấu cuối cùng của một mối tình.
Ngô Tiến Vinh





