Trong kho tàng giai thoại phương Đông, người làm nên nghiệp lớn thường được hậu thế phát hiện ra khí tượng từ rất sớm. Có người như Đinh Bộ Lĩnh thuở bé ngồi trên lưng trâu, lấy cờ lau mà bày trận. Có người như mẹ Phật Thích Ca mộng thấy bạch tượng mà hạ sinh ông. Có người như Lưu Bang bên Trung Quốc chưa biết ngai vàng hình dáng ra sao đã nói những lời khiến người xung quanh phải giật mình. Còn Lý Công Uẩn của nước Việt và Chu Nguyên Chương của Trung Quốc lại cùng được gắn với một dạng bài thơ lạ lùng: nằm ngủ giữa trời đất mà chẳng dám duỗi chân, chỉ sợ làm nghiêng ngả cả sơn hà xã tắc.
Điều đáng nói là hai ông vua sống cách nhau hơn ba thế kỷ, mỗi người thuộc về một đất nước, vậy mà hai bài thơ được truyền tụng dưới tên họ lại có nhiêu điểm giống nhau đến mức gần như cùng sinh ra từ một khuôn.
Vậy ai mới là chủ nhân thật sự?
***
Theo giai thoại được chép trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề, thuở nhỏ, Lý Công Uẩn sống trong chùa, tính tình thông minh song khá nghịch ngợm. Một lần, cậu bị sư Vạn Hạnh phạt đứng suốt đêm nơi cửa chùa. Đêm xuống, muỗi đốt không ngủ được, Lý Công Uẩn bèn tức cảnh ngâm bài Tức sự (即事) rằng:
天為衾枕地為氈,
日月同窗對我眠。
夜深不敢長伸足,
止恐山河社稷顛。
Phiên âm:
Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên,
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên.
Dạ thâm bất cảm trường thân túc,
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên.
Bài này về sau có bản dịch nổi tiếng của Lê Văn Uông như sau:
Màn có trời cao, chiếu đất liền
Cùng trăng thanh thản giấc thần tiên
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng
Cảnh ngộ vốn chẳng lấy gì làm oai phong. Một chú tiểu bị phạt nằm ngoài đất, thân không có giường, trên chẳng có mái, lại còn bị muỗi đốt suốt đêm. Thế mà qua miệng chú, cái nền đất lạnh bỗng thành đệm, bầu trời trở thành chăn gối, mặt trời mặt trăng hóa ra bạn đồng hành. Đến hai câu cuối, khẩu khí càng lớn hơn. Chú tiểu chẳng dám duỗi chân, bởi chỉ cần động đậy hơi mạnh, cả sơn hà xã tắc có thể nghiêng đổ! Đó rõ ràng là thứ khẩu khí rất hợp với cách người đời sau tưởng tượng về một bậc đế vương khi còn đang là chú tiểu nơi cửa chùa.
Lý Công Uẩn về sau quả thật lên ngôi, trở thành Lý Thái Tổ, khai sáng triều Lý. Năm 1010, ông quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, đổi tên nơi ấy thành Thăng Long. Việc dời đô mở đầu cho một thời kỳ phát triển lâu dài Đại Việt và đặt nền móng cho Thăng Long – Hà Nội trở thành trung tâm phát triển của người Việt cho đến nay. Bởi vậy, khi đọc câu “Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên”, hậu thế dễ dàng thấy trong đó một lời báo trước.
***
Ở bên kia biên giới, trong văn học Trung Quốc, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương cũng được gắn với một bài thơ có motif tương tự, thường mang tên Vô đề (無題):
天為帳幕地為氈,
日月星晨伴我眠。
夜間不敢長伸腳,
恐踏山河社稷穿。
Phiên âm:
Thiên vi trướng mạc địa vi chiên,
Nhật nguyệt tinh thần bạn ngã miên.
Dạ gian bất cảm trường thân cước,
Khủng đạp sơn hà xã tắc xuyên.
Bản dịch của Hoàng Giáp Tôn như sau:
Đất làm chiếu, trời làm màn
Bạn cùng nhật nguyệt vẫn an giấc mà
Đêm dài chẳng duỗi chân ra
Sợ xuyên xã tắc sơn hà mà thôi!
Theo câu chuyện được dẫn từ Anh liệt truyện, lúc còn khốn khổ, Chu Nguyên Chương từng nương náu tại chùa Hoàng Giác. Sau khi vị trưởng lão che chở cho ông qua đời, Chu bị những người trong chùa đối xử lạnh nhạt. Một hôm, họ đóng cửa không cho ông vào ngủ. Chu Nguyên Chương đành nằm ngoài trời, ngẩng nhìn dải Ngân Hà rồi tức cảnh thành bài này.
Hoàn cảnh này gần như soi gương với câu chuyện của Lý Công Uẩn. Cả hai đều từng sống trong chùa. Cả hai từng phải nằm ngủ theo đúng cảnh màn trời chiếu đất, nhật nguyệt làm bạn. Cuối cùng, cả hai cùng không dám duỗi chân vì sợ làm tổn hại sơn hà xã tắc. Sự tương đồng ấy vượt xa chuyện hai thi nhân vô tình cùng nhìn trăng rồi cảm khái giống nhau. Ý tưởng, bố cục, hình ảnh và cách đẩy khẩu khí lên đến cực điểm đều gần như trùng khít.
Chỉ có một số chữ được thay đổi. Bản gắn với Lý Công Uẩn viết “khâm chẩm” – chăn gối; bản của Chu Nguyên Chương viết “trướng mạc” – màn trướng. Một bên có nhật nguyệt bên song, một bên thêm cả tinh tú làm bạn. Lý Công Uẩn sợ xã tắc “điên”, tức nghiêng đổ; Chu Nguyên Chương sợ đạp thủng, đạp “xuyên” sơn hà xã tắc.
Nếu gọi đây là hai bài thơ hoàn toàn độc lập, e rằng hơi khó tin.
***
Xét riêng niên đại, Lý Công Uẩn sinh năm 974, lên ngôi năm 1009. Chu Nguyên Chương sinh năm 1328, đến năm 1368 mới dựng nên nhà Minh. Người trước ra đời sớm hơn người sau hơn ba thế kỷ. Vì thế, nếu bài thơ quả thật đã tồn tại từ thời Lý Công Uẩn, đương nhiên không thể có chuyện ông mượn thơ của Chu Nguyên Chương. Khi Lý Thái Tổ qua đời, nhà Minh còn hơn ba trăm năm nữa mới xuất hiện.
Khi ấy chỉ còn vài khả năng:
Một là bài thơ vốn của Lý Công Uẩn, sau truyền sang Trung Quốc rồi được gán cho Chu Nguyên Chương.
Hai là cả hai giai thoại cùng phát triển từ một mô-típ văn học dân gian hoặc một tác phẩm cổ hơn, sau đó hậu thế lần lượt gắn vào hai ông vua khai quốc.
Ba là bài thơ xuất hiện khá muộn, rồi được những người chép truyện ở hai nước điều chỉnh đôi chút để phù hợp với tiểu sử từng nhân vật.
Giai thoại của Lý Công Uẩn hiện thường được dẫn từ Công dư tiệp ký. Tác giả Vũ Phương Đề sống vào thế kỷ XVIII, tức cách thời Lý Thái Tổ khoảng bảy trăm năm. Ông ghi lại nhiều chuyện cũ lưu truyền trong dân gian và giới sĩ phu. Những câu chuyện ấy có giá trị lớn về văn hóa, song không phải lúc nào cũng có thể xem như biên bản được lập ngay tại thời điểm sự việc xảy ra.
Nguồn gắn bài thơ với Chu Nguyên Chương cũng chẳng vững chắc hơn bao nhiêu. Anh liệt truyện là tác phẩm không rõ tác giả, nội dung pha trộn lịch sử với truyền kỳ. Ngay trong truyền thống Trung Quốc, bài thơ này cũng có nhiều tên gọi và nhiều dị bản. Có bản kết bằng việc sợ đạp thủng sơn hà xã tắc, có bản lại nói sợ đạp vỡ cả đáy biển và bầu trời.
Vì thế, lấy niên đại cuộc đời hai ông vua để phán rằng ai “đạo thơ” của ai là chưa đủ. Điều cần biết hơn cả là bản chép nào xuất hiện trước, có thể lần ngược tới đâu, và trước những bản ấy liệu còn tồn tại một nguồn văn học dân gian chung hay không. Tiếc rằng các mắt xích ấy hiện vẫn còn mờ mịt.
***
Cũng có người đặt câu hỏi: một chú tiểu còn nhỏ, hoặc một người nghèo đang nằm ngoài cổng chùa, liệu có thể tức cảnh làm ngay một bài thất ngôn tứ tuyệt chỉnh tề, đầy những chữ như “sơn hà”, “xã tắc” hay không?
Câu trả lời nằm trong chính bản chất của giai thoại: thường không kể quá khứ đúng nguyên dạng nó từng xảy ra, mà lựa chọn, gọt giũa, thêm bớt, rồi biến cả một đời người thành vài khoảnh khắc có ý nghĩa. Khi một nhân vật về sau lên ngôi hoàng đế, người đời thường quay lại thời thơ ấu để tìm những dấu hiệu chứng minh rằng nghiệp lớn của ông đã được báo trước. Thành ra, giai thoại tạo nên một hiệu ứng xoay vòng. Bài thơ có thể đã tạo nên giai thoại. Giai thoại cũng có thể đã tạo nên bài thơ. Một mô-típ văn chương đủ hay còn có thể vượt qua biên giới, được mỗi cộng đồng khoác lên một nhân vật mà mình thấy thích hợp nhất.
Vì vậy, câu chuyện ai là tác giả, đâu mới là bài gốc chưa thể khép lại. Dẫu vậy, vẫn khó phủ nhận rằng mô-típ của cả hai bài đã khớp lạ lùng với khí phách và cuộc đời của cả hai nhân vật. Một người khai sáng nhà Lý, dời đô ra Thăng Long, đưa Đại Việt bước vào một kỷ nguyên phát triển mới. Một người lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, dựng nên nhà Minh, thống nhất lại Trung Hoa sau nhiều năm binh loạn. Hai con người ở hai đất nước, cách nhau hơn ba thế kỷ, cuối cùng lại gặp nhau trong cùng một hình ảnh: thuở hàn vi lấy đất làm giường, lấy trời làm màn, song trong giấc ngủ đã có cả non sông nằm dưới chân mình.
Ngô Tiến Vinh





