“Ông Nguyên Hồng hay khóc và ông Thế Lữ hay cười.”

Đó là cách nhà văn Kim Lân phác được cả hai chân dung về hai người đồng nghiệp cùng thời của mình. Thế Lữ vốn nổi tiếng với những vần thơ đầy khí phách trong “Nhớ rừng”. Vậy mà khi ở giữa bạn bè, ông lại thường xuất hiện cùng tiếng cười râm ran. Còn Nguyên Hồng dường như lúc nào cũng mang sẵn nước mắt ở nơi khóe mắt.

Nghe qua, người ta dễ coi đó là một nét tính tình kỳ lạ, thậm chí có phần buồn cười của một nhà văn quá đa cảm. Thế nhưng, nước mắt của Nguyên Hồng không phải bỗng nhiên mà có. Nó đã được tích lại từ rất sớm, trong tuổi thơ của cậu bé Hồng buộc phải lớn quá sớm trong sự thiếu thốn tình thương, giữa cuộc hôn nhân không hạnh phúc của song thân, cái chết của người cha, sự xa cách thuở thiếu thời với người mẹ và những lời cay nghiệt mà một đứa trẻ phải nghe về người mình yêu thương nhất.

***

Nguyên Hồng, tên đầy đủ là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5/11/1918 tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, nay thuộc phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình. Cha ông là một người đàn ông học hành dang dở, về sau trở thành cai ngục. Bởi vậy, vào ngày ông chào đời, ngoài những lời hỏi han, chúc tụng của họ hàng hai bên, gia đình còn nhận được không ít quà cáp từ thân nhân của những tù nhân có máu mặt và những kẻ đang có ý nhờ vả ông bà. Nghe qua đã biết những món quà ấy chẳng hoàn toàn xuất phát từ tình cảm tốt đẹp gì.

Mẹ ông xuất thân trong một gia đình buôn bán rau đậu, trầu cau lần hồi ở các chợ và trên tuyến đường sông Nam Định – Hải Phòng. Bà là một phụ nữ trẻ, ngoan đạo, chịu thương chịu khó. Khi hai người kết hôn, cha Nguyên Hồng đã ngoài ba mươi tuổi, gần gấp đôi tuổi vợ.

Ngay từ năm lên bảy, lên tám, khi bị kẹt giữa những mâu thuẫn âm ỉ trong gia đình, Nguyên Hồng đã lờ mờ nhận ra:

“Hai thân tôi lấy nhau không phải vì quen biết nhau lâu mà thương yêu nhau.”

Bản thân ông dường như chỉ là kết quả của một cuộc hôn nhân gượng gạo. Phải đến khi lớn lên, Nguyên Hồng mới hiểu tường tận nguyên nhân:

“Chỉ vì hai bên cha mẹ, một bên hiếm hoi muộn cháu và có của; một bên sợ nguy hiểm giữ con gái đẹp đến thì ở trong nhà và muốn cho người con ấy có chỗ nương tựa chắc chắn, được cả một dòng họ trọng đãi nếu mắn con…”

Nói cách khác, cuộc hôn nhân ấy được dựng nên từ những nỗi lo và sự tính toán của hai bên gia đình. Tình yêu giữa hai người trong cuộc dường như lại là điều ít được quan tâm nhất.

Bi kịch vì thế chẳng mất nhiều thời gian để ập đến. Cha Nguyên Hồng về sau thất nghiệp, nghiện ngập, mắc bệnh lao rồi qua đời khi ông mới 12 tuổi. Mái ấm vốn đã thiếu hơi ấm nhanh chóng suy sụp. Mẹ ông vì không chịu nổi cảnh sống trong nhà chồng phải đi nơi khác kiếm sống, rồi tìm kiếm một cuộc đời mới cho riêng mình. Cậu bé Hồng bị để lại với bà nội và những người cô bên nội.

***

Từ đó, ông vừa mất cha, vừa gần như bị tước mất mẹ, dù mẹ vẫn còn sống. Trong ký ức của cậu bé Hồng, gia đình dần hóa thành một mái nhà lạnh lẽo, nơi những người thân sống gần nhau mà chẳng thật sự thuộc về nhau. Còn cậu, một đứa trẻ vốn chỉ cần được yêu thương, bỗng bị lôi ra làm chiến trường cho những thành kiến, oán giận và cuộc phân xử tàn nhẫn của người lớn.

Người đầu tiên để lại trong Nguyên Hồng nỗi ám ảnh sâu sắc nhất là người cô bên nội. Bà liên tục nhắc đến mẹ ông bằng những lời giễu cợt, khinh miệt, cố gieo vào đầu đứa cháu nhỏ ý nghĩ rằng mẹ là một người đàn bà hư hỏng, đáng xấu hổ và đã chẳng còn thương con. Cái độc ác của người cô không nằm trong tiếng quát tháo hay những trận đòn. Nó ẩn dưới giọng nói ngọt ngào, trong những câu hỏi giả vờ quan tâm:

“Có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?”

Bà biết rất rõ Hồng nhớ mẹ. Bà cũng hiểu rằng chỉ cần nhắc đến mẹ, trái tim đứa trẻ ấy sẽ lập tức mềm đi. Thế nhưng sau mỗi câu hỏi tưởng như ân cần lại là một mũi kim, vừa châm vào nỗi tủi nhục của người mẹ, vừa ép đứa trẻ phải đứng giữa tình yêu dành cho mẹ và sự phán xét của cả gia đình.

Người tiếp theo lại chính là bà nội. Khi mới mười hai tuổi, Hồng đã có một trận tranh cãi với bà về việc ai mới là cha ruột của em Quế. Cuộc cãi vã căng thẳng đến mức nhiều năm sau, trong ký ức của ông, từng lời đối đáp vẫn còn nguyên vẹn. Một đứa trẻ chưa kịp hiểu hết chuyện người lớn đã bị buộc phải đối diện với những lời buộc tội, nghi kỵ và cay nghiệt liên quan đến chính mẹ cùng em gái mình.

Rồi còn những người hàng xóm xấu tính, người thầy giáo và vô số ánh mắt khinh miệt ngoài xã hội. Tất cả cứ từng chút một bào mòn thần kinh của một đứa trẻ đang tuổi lớn. Hồng phải đi đánh đáo kiếm tiền ăn học, phải chung đụng với đủ hạng trẻ lang thang, bị xem là hư hỏng và thuộc những lớp “cặn bã” quanh vườn hoa, cổng chợ, bến tàu, bến ô tô, bãi đá bóng.

Thế nhưng Hồng vẫn yêu mẹ. Càng nghe người khác nói xấu mẹ, cậu càng đau đớn và căm giận. Trong tâm trí non nớt ấy từng hiện lên một hình ảnh dữ dội: nếu những hủ tục đã đày đọa mẹ là một vật hữu hình, cậu muốn cắn, muốn nhai, muốn nghiến cho kỳ nát vụn. Bởi vậy, trong lần bất ngờ nhận ra mẹ đang ngồi trên xe kéo, Hồng lập tức chạy theo. Khi được mẹ kéo lên xe, cậu ôm chầm lấy bà, nép vào lòng và chẳng muốn rời ra nữa…

***

Cuộc đoàn tụ ấy cũng mở ra bước ngoặt trong đời Nguyên Hồng. Năm 16  tuổi, mới học hết bậc trung học, ông thôi học, theo mẹ rời Nam Định ra Hải Phòng kiếm sống. Những ngày đầu, hai mẹ con cùng nhau đi qua đủ cảnh thiếu thốn:

“Ra Hải Phòng, chúng tôi càng khổ sở, trông vào vài hào làm vốn buôn trầu cau, mẹ con tôi được bữa sớm mất bữa tối. Lắm phen, luôn mấy hôm chỉ được bữa cháo lót lòng.”

Nguyên Hồng từng tìm việc ở nhiều nơi mà vẫn thất nghiệp. Sau cùng, dừng chân tại xóm Cấm, ông sống bằng nghề dạy học tư cho con em những gia đình lao động nghèo.

Giữa cảnh túng quẫn ấy, sách vở trở thành một nơi trú ẩn hiếm hoi. Từ nhỏ, Nguyên Hồng đã ham đọc, thường chắt chiu tiền để thuê sách ở Nam Định và đọc gần như mọi cuốn mình yêu thích. Ban đầu, ông mê những truyện có nhân vật ngang tàng, dữ dội, những tay hảo hán sống ngoài khuôn phép. Về sau, khi bước vào những xóm nghèo Hải Phòng, ông lại được tận mắt nhìn thấy một thế giới còn phức tạp hơn trong sách: dân thợ, trẻ lang thang, người thất nghiệp, gái nghèo và những con người bị xã hội đẩy xuống tận đáy.

Từ những trang sách từng đọc, những cảnh đời từng gặp và đặc biệt là chính tuổi thơ của mình, Nguyên Hồng bắt đầu cầm bút. Trong hồi ký “Những ngày thơ ấu”, cậu bé Hồng, lúc ấy đã được nhìn lại bằng đôi mắt của một thanh niên vừa bước qua tuổi đôi mươi, kể gần như trọn vẹn những cay đắng mình từng chịu đựng. Ông không tô son cho quá khứ, chẳng tìm cách che giấu những điều có thể khiến gia đình hay họ hàng khó chịu. Tác phẩm bắt đầu được đăng báo từ năm 1938, rồi đến năm 1940 mới được Nhà xuất bản Đời Nay in thành sách. Khi giới thiệu tác phẩm, nhà văn Thạch Lam đã phải để lại những lời nhận xét đầy trắc ẩn:  

“sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề lối khắc nghiệt của một gia đình sắp tàn”.

Nhiều năm sau, Giáo sư Phan Cự Đệ, một trong những người dành nhiều công sức nghiên cứu về Nguyên Hồng, vẫn nhớ rõ ấn tượng mà tác phẩm để lại từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường:

“Tôi nhớ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, một lần phải dịch ra Pháp văn một đoạn trong Những ngày thơ ấu, cái đoạn nói về tiếng kèn. Đã bao năm qua rồi mà tôi vẫn không thể quên được cái tiếng kèn náo nức, dồn dập, rung vang đó.”

Cùng với “Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu” nhanh chóng đưa tên tuổi Nguyên Hồng bước vào văn đàn trước Cách mạng Tháng Tám. Từ rất sớm, hai cuốn sách ấy đã cho thấy con đường mà Nguyên Hồng sẽ theo đuổi gần như suốt đời: viết về những con người bị dồn vào đau khổ, viết về phụ nữ và trẻ em, hai nhóm người yếu thế nhất trong hầu hết các dạng xã hội. Ông viết bằng sự thấu hiểu của một người từng sống ngay giữa đau khổ ấy.

***

Bởi tuổi thơ bị đặt giữa những mối quan hệ méo mó, thiếu thốn tình cảm và liên tục chịu tổn thương, tâm hồn Nguyên Hồng cũng sớm trở nên đầy mâu thuẫn. Ông vừa nhạy cảm, dễ tủi thân, vừa có sức phản kháng dữ dội trước bất công; vừa mong manh trước một lời nói nặng, vừa có thể dành cả đời để đứng về phía những con người bị chà đạp. Ngay cả khi đã trưởng thành và có tuổi, chỉ một sự hiểu lầm, một câu trách móc hay một cảnh đời khốn khổ cũng đủ khiến ông xúc động. Biệt danh “nhà văn mau nước mắt” cũng từ đó mà thành.

Song có lẽ Nguyên Hồng khóc nhiều bởi từ nhỏ, ông đã sống trong một thế giới nơi những người mình yêu thương nhất phải nuốt vào lòng quá nhiều nước mắt, phải cố giấu tình cảm, nếu không muốn bị người lớn tiếp tục đem chính nỗi nhớ ấy ra giễu cợt. Bởi vậy, khi lớn lên, Nguyên Hồng dường như đã khóc thay cho cậu bé Hồng năm xưa, cho người mẹ từng bị xua đuổi và cho những con người cùng khổ chẳng được ai chịu ngồi xuống lắng nghe.

Ngô Tiến Vinh