Chiều hôm ấy, nhà văn Nguyên Hồng ngồi một mình bên cửa sổ trong phòng ăn của Hội Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật. Trên bàn không có cơm, cũng chẳng có món nhắm. Chỉ có một cốc rượu trắng. Khuôn mặt người đàn ông râu tóc lởm chởm ấy đầm đìa nước mắt, đúng như tính cách của ông.
Nhà văn Chu Giang, khi đó còn là một người viết trẻ, bước vào phòng ăn tại khuôn viên Nhà xuất bản Văn học, số 49 Trần Hưng Đạo. Nhìn thấy người thầy ngồi lặng như vậy, ông không dám lên tiếng chào hỏi, chỉ chọn một chiếc bàn khác ở phía đối diện rồi âm thầm quan sát. Đang trong luc tự suy xem có chuyện gì xảy đến với thầy, bỗng nhiên, Nguyên Hồng dằn mạnh tay xuống mặt bàn, gần như hét lên:
– Chúng nó sẽ bị đánh cho tan tành! Chúng lại dám xâm phạm vào bờ cõi nước Nam. Chúng sẽ bị đánh cho tan tành…
Rồi ông nhìn thẳng về phía người học trò, đọc tiếp một câu chữ Hán:
– Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư…
Đó là câu kết của bài thơ Nam quốc sơn hà, thường được diễn nghĩa:
“Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.”
Nguyên Hồng vẫn chưa nguôi. Ông nhấn mạnh rằng ý trong nguyên văn còn dữ dội hơn bản dịch rất nhiều, rồi lại quả quyết:
– Chúng nó nhất định sẽ bị đánh cho tan tành…
Buổi chiều ấy diễn ra ít lâu sau khoảnh khắc quân Trung Quốc vừa mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam (17/2/1979). Trong phòng ăn vắng người ở Hà Nội, Nguyên Hồng ngồi bên một cốc rượu trắng, vừa khóc, vừa đọc bài thơ được xem như lời tuyên bố chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
***
Muốn hiểu vì sao Nguyên Hồng xúc động dữ dội đến thế, ta phải phải nhìn lại chặng đường thành thanh niên ông đã đi qua. Bởi đối với nhà văn, ngoại xâm chưa bao giờ là một khái niệm xa xôi chỉ xuất hiện trong sách sử.
Trong những năm 1937–1939, khi tên tuổi đã bắt đầu được biết đến qua “Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu”… Nguyên Hồng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ tại Hải Phòng. Đó cũng là giai đoạn ông gắn bó mật thiết với báo chí tiến bộ. Từ rất sớm, Nguyên Hồng đã cộng tác với nhiều tờ báo, tạp chí như Tin Văn, Ngày Nay, Bạn Dân, Dân Chúng… cùng một số ấn phẩm khác. Những gì ông viết trên báo cũng chẳng cách xa thế giới trong văn chương của ông, vẫn là những vấn đề rất thời sự của một xã hội thực dân – nửa phong kiến: đói nghèo đến cùng cực, mù chữ diện rộng, người lao động bị bóc lột, người phụ nữ bị đẩy xuống đáy xã hội, mại dâm, góa phụ, những người mẹ đơn độc và những thân phận thường bị xã hội kết tội trước khi chịu nghe họ kể hết câu chuyện của mình…
Chính vì viết quá nhiều bài phê phán mà ông trở thành mục tiêu cần phải bị “khóa tay” hàng đầu. Tháng 9/1939, ông bị nhà cầm quyền thực dân bắt giam. Sau khi ra tù, ông tiếp tục bị đưa lên trại tập trung Bắc Mê, Hà Giang cũ, rồi bị quản thúc tại Nam Định cũ từ cuối năm 1941. Cuộc sống tù đày lại bổ sung thêm một tầng trải nghiệm khác cho cuộc đời vốn đã nhiều bất hạnh của Nguyên Hồng: mất tự do ngay trên đất nước của mình.
Đến năm 1943, sau khi ra tù, Nguyên Hồng tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật cùng nhiều văn nghệ sĩ như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… Ông tham gia hoạt động báo chí cách mạng, rồi góp mặt trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tại Hà Nội. Từ đó, ông đồng hành cùng dòng chảy kháng chiến trong Hội Văn nghệ Việt Nam, tham gia biên tập Tạp chí Văn nghệ và phụ trách công việc tại Trường Văn nghệ Nhân dân ở Việt Bắc cho đến khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng.
Từ một cậu bé từng phải đánh đáo kiếm tiền ăn học, một thanh niên dạy học tư ở xóm nghèo Hải Phòng, Nguyên Hồng đã đi đến lựa chọn đứng vào một phong trào muốn thay đổi tận gốc xã hội đã tạo ra những Tám Bính, bé Hồng và biết bao người cùng khổ khác. Bởi vậy, độc lập đối với Nguyên Hồng vì thế chưa bao giờ chỉ là một từ trang trọng trong diễn văn. Nó có hình hài được tạc bằng vô số chiến công và mắt mát khó có thể đo đạc, đong đếm.
***
Vì vậy, khi biên giới phía Bắc bị tấn công vào tháng 2/1979, Nguyên Hồng không thể tiếp nhận tin ấy bằng sự bình thản của một người chỉ đang theo dõi một biến cố thời sự. Quá khứ tù đày, những năm bí mật, những ngày kháng chiến và niềm vui độc lập cùng lúc dội về. Ông khóc. Rồi đọc “Nam quốc sơn hà’.
Thời điểm ấy, cả nước hướng về biên giới. Tin tức về những người đã ngã xuống, trong đó có liệt sĩ Lê Đình Chinh và nhiều cán bộ, chiến sĩ, dân thường khác, liên tục truyền về hậu phương. Các cơ quan chuẩn bị phương án sơ tán nếu chiến sự lan rộng. Nhiều người trẻ đăng ký tình nguyện lên biên giới. Ngay tại Nhà xuất bản Văn học, nơi Chu Giang công tác, bầu không khí cũng trở nên khẩn trương. Nhà văn Lê Khánh dù đã nghỉ hưu, lại đang bị đau dạ dày, vẫn xung phong vào nhóm đầu tiên lên biên giới để viết bài phản ánh tình hình. Sau một tháng, ông trở về Hà Nội cùng Lừu A Phừ, một anh nuôi của đơn vị bám chốt được phong Anh hùng, để kể lại những câu chuyện từ nơi chiến sự.
Trong bầu không khí ấy, giọt nước mắt của Nguyên Hồng đã rơi. Ông tìm về câu thơ đã tồn tại trong ký ức dân tộc suốt nhiều thế kỷ:
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”
Kẻ xâm phạm bờ cõi này nhất định sẽ chuốc lấy thất bại.
***
Chu Giang cho rằng những người trẻ thuộc thế hệ mình cũng thuộc “Nam quốc sơn hà”, cũng thường ngâm nga những câu thơ ấy, song chưa chắc có được cảm xúc dữ dội như Nguyên Hồng. Ông đã sống đủ lâu, chịu đủ cảnh để hiểu một đất nước mất chủ quyền sẽ làm những gì với từng số phận nhỏ bé. Đó có lẽ là một trong những lần khóc dữ dội nhất của “nhà văn mau nước mắt”.
Ngô Tiến Vinh





