Thế nhưng Nguyên Hồng đâu phải lúc nào cũng khóc!
Những lúc nước mắt chưa kịp rơi, ông có thể là một người thầy nghiêm khắc đến đáng sợ, một ông già tếu táo như thanh niên, hoặc một nhà văn nổi tiếng nhất quyết không nhận thêm một miếng cơm nếu học trò không được phần như mình. Nói cách khác, lòng thương người ở Nguyên Hồng nhiều khi hiện ra trong những việc nhỏ đến mức làm xong, chính ông cũng chẳng nghĩ mình vừa làm điều gì đáng kể.
***
Năm 1968, Nguyên Hồng đến giảng tại Trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ của Hội Nhà văn. Đó cũng là nơi các học viên được chứng kiến rõ nhất con người đời thường của ông.
Cứ đến bữa, Nguyên Hồng lại cắp một chiếc rá sang bếp tập thể nhận cơm. Thấy nhà văn tuổi đã cao, lại là người thầy được nhiều học viên kính trọng, những người phụ trách nhà bếp thường kín đáo chia cho ông nhanh hơn và nhiều hơn một chút. Sự ưu tiên ấy rất nhỏ. Có khi chỉ là thêm một ít cơm, một miếng thức ăn hoặc một phần đầy đặn hơn. Trong hoàn cảnh thiếu thốn thời chiến, người ta thương nhau bằng cách ấy cũng là điều dễ hiểu. Nguyên Hồng nhận rá cơm, đem về so với phần của học viên rồi phát hiện ra ngay. Ông kiên quyết xẻ bớt phần được ưu tiên. Một lần chưa xong. Nhà bếp lại thương, ông lại chia. Sau nhiều lần như vậy, những người phụ trách đành hiểu rằng muốn nhà văn yên lòng thì chỉ còn cách chia cho ông đúng tiêu chuẩn như mọi người.
Song Nguyên Hồng cũng chẳng phải một ông thánh khắc khổ đến mức không có thú vui riêng. Sau khi nhận cơm, trên đường trở về nhà dân nơi sơ tán, ông thường tạt vào một quán vắng. Nhà văn nhìn trước, ngó sau, thấy không có ai mới chui tọt vào trong, mua một chén rượu, uống thật nhanh rồi trở về dùng bữa như chưa có chuyện gì xảy ra. Ông thương người, sống nguyên tắc, song vẫn ham vui, hóm hỉnh và có những phút vụng trộm rất đời thường.
***
Ở giữa học trò, Nguyên Hồng cũng mang hai khuôn mặt tưởng như trái ngược.
Một mặt, ông gần gũi, thích pha trò, sẵn sàng ngồi cùng đám học viên trẻ mà cười đùa. Có hôm. nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. (Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam) đến giảng. Hai người bạn già gặp nhau trước lớp liền trêu chọc, nhắc lại đủ chuyện nghịch ngợm suốt mười lăm phút. Cả hai cười ngả nghiêng đến chảy nước mắt, khiến vị nhạc sĩ tài hoa cuối cùng phải đuối, xin dừng để còn bắt đầu bài giảng:
– Các anh chị cứ hỏi, tôi biết đến đâu trả lời đến đó.
Học viên hôm ấy hỏi rất nhiều. Nguyễn Xuân Khoát trả lời gãy gọn và hóm hỉnh. Có người thắc mắc:
– Sao bác có tuổi mà viết cho thiếu nhi vẫn hay ạ?
Lập tức, tác giả của những Thằng Bờm, Con cò đi ăn đêm… giải thích:
– Trong mỗi người đều có một thằng trẻ con. Khi nào nó trở lại với mình thì viết được cho nó. Chứ cưa sừng làm nghé là nói cho vui thôi, có ai cưa được đâu. Anh Hồng viết “Cha con người mãi võ”, một chuyện rất hay cho thiếu nhi, chắc cũng là như vậy?
Nguyên Hồng lập tức hưởng ứng:
– Anh Khoát dạy chí phải! Vui nhất là bỗng thấy mình lại được làm trẻ con để viết về chính cái thằng nhóc ấy!
Cả lớp lại được một trận cười khoái chí.
Thế nhưng, khi cần nghiêm túc, Nguyên Hồng lại trở thành một người khác. Cầm bài viết của học trò lên, ông chữa rất kỹ, gạch, xóa, bắt lỗi đến mức có trang bản thảo đỏ lòe. Chữ nào thừa, câu nào yếu, đoạn nào chưa tới, ông đều không dễ dàng bỏ qua. Học viên có người sợ hãi mà đặt cho ông biệt danh “Cây kéo tàn bạo”. Giữa trưa hè, khi mọi người đi ngang qua đình làng, họ từng thấy Nguyên Hồng nằm bò trên một tấm ni lông nhỏ trải ngoài hiên. Một tay ông phành phạch quạt cho đỡ nóng, tay kia vẫn cầm bút chữa bài. Có người ngại nộp bài cho ông vì sợ khi nhận lại sẽ thấy tác phẩm của mình gần như bị xóa sạch.
Dẫu vậy, những chỗ Nguyên Hồng chữa thường khiến học viên tâm phục. Họ chuyền tay nhau đọc, cùng bàn luận về từng lỗi bị bắt và xem đó như một bài học chung. Ông chữa dữ bởi coi trọng người viết trẻ. Kẻ thờ ơ mới khen lấy lệ. Người thực lòng muốn học trò tiến bộ đôi khi phải chấp nhận trở thành một “cây kéo tàn bạo”. Sự nghiêm cẩn ấy không chỉ dành cho văn của người khác. Trong bài thơ “Cửu Long Giang ta ơi”, Nguyên Hồng từng viết một câu:
“Đêm nay Cửu Long Giang vẫn âm vang sóng cát.”
Khi in báo, hai chữ “âm vang” bị sửa thành “ầm vang”. Biết chuyện, ông hốt hoảng:
– Thế là chết người ta rồi! “Âm vang” hàm ý không khoe khoang, ồn ã. Tớ lựa mãi được chữ này, đặt vào thấy ổn mới chép gửi báo. Vậy mà họ lại in là “ầm vang”. Viết thế là trơn tay, nhờn tay, lười biếng, còn gì là văn chương!
***
Tại trụ sở Hội Nhà văn ở số 65 Nguyễn Du, Nguyên Hồng từng đánh bóng bàn với bà Phạm Thị Trường, vợ nhà văn tài hoa Nguyễn Đình Thi. Thấy Nguyễn Đình Thi đi ngang, ông gọi bạn vào xem mình “tiu chị ấy”. Tác giả bài Đất nước đứng nhìn một lúc rồi nhận xét rằng Nguyên Hồng toàn “tiu” trượt, bảo vợ đánh lại. Bà Trường vụt mấy quả cũng chẳng quả nào vào bàn. Nguyễn Đình Thi thấy vậy liền phán xanh rờn:
– Trượt ráo. Chẳng nước non gì mà lo.
Nguyên Hồng ở giữa bạn bè là như vậy. Người ngoài nhìn ảnh dễ thấy một ông già khắc khổ, râu tóc lởm chởm, áo quần nâu sồng, gương mặt lúc nào cũng nặng trĩu suy tư. Gặp đúng bạn thân, cái vẻ khắc khổ ấy tan rất nhanh. Ông pha trò, nói nghịch, cười đùa và đôi khi quậy chẳng kém những người ít hơn mình vài chục tuổi. Cũng vì thế, khi nhận xét về Nguyên Hồng trước mặt học trò, bạn bè ông chẳng ngại đùa hết nấc.
Có lần, nhà thơ Xuân Diệu đến lớp của Hội Nhà văn rồi hỏi:
– Giúp các anh các chị ở đây nhiều nhất là ai?
Cả lớp đồng thanh:
– Nhà văn Nguyên Hồng ạ!
Xuân Diệu hồn nhiên đáp:
– Yên tâm rồi. Về văn thì phải vái anh ấy, về thơ cũng phải vái. Thơ anh ấy đầu Ngô mình Sở, không đầu không cuối mà tài hoa, bay bổng. Anh ấy viết không giống ai, mà cũng không ai bắt chước được.
Chế Lan Viên lại chọn một cách nói khác:
– Các anh chị thử nghĩ xem, nếu trên đời này có hai ông Xuân Diệu suốt ngày nói chuyện yêu, hai ông Chế Lan Viên suốt ngày triết lý, hai ông Nguyên Hồng suốt ngày đắm đuối thì mệt lắm, phải giảm biên. Mỗi thứ chỉ cần một người là đủ. Các anh chị phải tìm ra cái riêng của mình thì mới thành nhà văn.
Năm 1959, sau những biến động liên quan đến Báo Văn, Nguyên Hồng quyết định rời Hà Nội về sống tại ấp Cầu Đen, Nhã Nam, thuộc vùng Yên Thế của Bắc Giang khi ấy. Nhưng đường sá xa xôi và cuộc sống thiếu thốn vẫn không khiến bạn bè văn chương quên ông. Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Kim Lân cùng nhiều người khác vẫn viết thư, hẹn gặp hoặc tìm lên thăm. Mỗi lần về Hà Nội, Nguyên Hồng cũng thường tìm Nguyễn Tuân, đôi khi chỉ để uống với nhau một cốc bia và trao đổi vài câu chuyện.
***
Cuộc đời Nguyên Hồng cũng thật trớ trêu khi khép lại giữa lúc bộ tiểu thuyết lịch sử “Núi rừng Yên Thế” vẫn đang dang dở. Có lẽ đó là kết thúc buồn nhất đối với một người từng sống cùng nhân vật đến mức òa khóc gọi điện báo tang khi Gái Đen qua đời. Bao nhiêu số phận ông đã dự định dẫn đi tiếp, bao nhiêu mối đời còn chưa được tháo gỡ, cuối cùng đều phải dừng lại cùng nét bút của tác giả.
Người đời nhớ Nguyên Hồng vì ông hay khóc. Song khi nước mắt chưa rơi, lòng thương của ông vẫn hiện diện trong từng việc tưởng như rất nhỏ. Nước mắt cho thấy Nguyên Hồng xúc động đến đâu. Còn những việc ông làm khi không khóc lại cho thấy cảm xúc ấy đã đi sâu vào cách ông sống và viết như thế nào.
Ông không phải một con người hoàn hảo. Có lúc ông nóng nảy, đùa quá trớn và nghiêm khắc đến mức khiến học trò sợ. Song sự nghiêm khắc của ông hướng vào câu chữ, còn sự ấm áp luôn dành cho con người.
Trong đời văn, Nguyên Hồng đã dành gần như trọn đời để viết về những con người bị cuộc sống bỏ lại phía sau. Bởi lòng thương chân thật nhất đâu phải lúc nào cũng cần đến nước mắt. Đôi khi, nó là dành trọn một đời để viết tiếp câu chuyện cho những con người vốn chẳng được ai chịu ngồi xuống lắng nghe.
Ngô Tiến Vinh





