Ngõ trưa thưa bóng nắng, khuất cả bụi mặt đường, ấy vậy mà lão Căn vẫn trằn trọc không nổi một giấc nông. Tiếng đục đẽo, khoan cắt vang ầm ầm bên tai, vón trong không gian tù túng càng thêm chát chúa. Quả tim già nện thình thịch vào lồng ngực lão, gân xanh hai bên thái dương bị chọc cho nổi cộm lên giần giật. Lão vùng vằng trở dậy, khom người bò xuống khỏi căn gác lửng bí bách. Sát vách, người ta đang đập phá.
“Tiên sư nhà chúng mày! Trưa trờ trưa trật, oang oang thế này bố ai ngủ được?”
Giọng nói già nua lẫn trong tiếng khoan đục ồn ã khô giòn như mảnh lá rụng bên thềm. Người ta không nghe thấy hoặc có lẽ đã nghe nhưng chẳng thèm phản ứng. Lão Căn chỉ mạnh miệng mắng vốn chứ chả làm được gì đám thợ thuyền xốc vác, mà lão cũng có phải người trả công cho họ quái đâu! Cứ kệ lão hằn học nói ra nói vào, nhọc mệt cũng là lão.
Lão Căn đứng trước cửa nhà chửi đổng một hồi rồi lại bực bội quay vào trong, cái dáng lom khom vừa đi vừa lầm bầm nom ủ rũ như con gà trống bại trận.
Cả tuần nay là vậy, đội thợ đuổi tiến độ nên tay khoan tay búa miệt mài xuyên trưa. Người ta càng ra sức công cán, tâm tình lão Căn càng nặng nề như cơn dông mùa hạ. Âm thanh phá dỡ ban đầu chỉ mơ hồ như khói bếp đầu ngõ, men theo đôi khúc rẽ quanh co rồi loang lẫn vào khoảnh sân chung. Thế mà mới mấy hôm, nó đã lù lù ngay trước cửa, chẳng nói chẳng rằng, hung hăng xộc thẳng vào tận cái màn tuyn chỗ lão Căn nằm trên gác lửng, át cả tiếng rè rè từ cái đài cũ. Sáng nay, người ta đã dỡ đến bức tường sát vách. Vụn gạch vãi đầy sân nhỏ, ngổn ngang. Bụi bặm phủ mờ rêu phong, mịt mùng. Mấy chuyến xe cút kít chở đi những gì đã từng của một vài nếp nhà. Tất cả gom lại nên hình con thú hoang đang nhăm nhe há mõm, chỉ chờ lão Căn sơ sẩy là nuốt trọn nơi gói ghém kỷ niệm mấy mươi năm đời lão. Vành mắt lão Căn đỏ hoe, đau như một phần máu thịt mình cũng bị mổ xẻ theo con ngõ tan hoang.
Nơi này vốn là một con ngõ nhỏ và nông với hình thù kỳ dị, từ trên dòm xuống nom như cái bình cao cổ nặn hỏng. Phần đầu hẹp dài cong vẹo, phần đáy phình ra quây thành một mảnh sân chung dựng được dăm chiếc xe máy. Ngõ chứa đâu đó hơn chục hộ gia đình, chung với nhau một số nhà 37, một lối đi mấp mô, một dáng nhà kiểu cũ cùng nhiều năm nghĩa tình xóm giềng. Mấy người già trong ngõ hở ra là đùa, ngõ mình số 37, ấy là ba chìm bảy nổi, dân ngõ khăng khít cũng vì chung cái số lận đận. Mai này nhà ai phất lên thì không được bỏ ngõ, bỏ bà con đâu nhé! Câu đùa nhẹ tênh như gió thoảng bên tai, ấy thế mà lại thành thật.
Cả tháng nay, ngõ nhỏ vốn chỉ quẩn quanh những vụn vặt lông gà vỏ tỏi bỗng râm ran. Nguồn cơn rỉ ra từ cái miệng hay buôn của chị Lành, rằng bạn thân cháu trai ông chú chồng bà dì chị, giàu nứt đố đổ vách, muốn mua nhà ở ngõ này, không chỉ một mà là tất cả. Ngõ có bao nhiêu nhà, người ta mua hết để xây thành khách sạn. Nhà nào muốn bán ắt có thể thương lượng một cái giá hời.
Tin này như giọt nước rớt giữa vạc dầu, ai nấy bồn chồn giở lại sổ đỏ, đo lại diện tích sàn. Cả ngõ như món đồ chơi lên dây cót, không ngừng xôn xao chuyện nhà cửa đất đai. Ban đầu chỉ một, hai hộ tiên phong, sau đó lần lượt là mấy nhà đầu ngõ, giữa ngõ, rồi tới hàng xóm sát vách, trên lầu nhà lão Căn… Nhà lão Căn là nơi con ngõ kết thúc, cũng là nhà cuối cùng chưa chịu sang tên. Giờ, chỉ còn cái ổ xập xệ của lão là vẫn nằm đó trơ trơ như cục cứt chuột giữa nồi cháo trắng người ta ninh. Khó xử biết bao!
Chiều tối, đội thợ nghỉ tay, tiếng ồn đinh tai nhức óc cũng ngơi ngớt, nhường chỗ cho leng keng nồi niêu, rôm rả chuyện trò. Đám thợ xây cười sằng sặc đùa nhau những câu tục tĩu. Không có tiếng vợ chồng Tuấn Lành hục hặc, giọng cái Minh thở than, tiếng nhạc xập xình của con bé Miên, tiếng bà Hương quát cháu the thé… Hoàng hôn vẫn tấu những nhịp đầu tiên trong giai điệu sinh hoạt phố phường, chỉ vắng một bản nhạc ngõ mà lão Căn quen thuộc.
Ai đó kéo cửa nghe ken két. Anh Trí con trai lão Căn về thăm bố.
“Trí về rồi đấy à? Cơm nước gì chưa?”
Bà Bình cũng là dân ngõ, có căn nhà bé tin hin giờ đã bị dỡ thành bãi đất trống. Nhớ chốn cũ, bà xin đội thợ chân cơm nước, vừa để ở lại với ngõ thêm dăm bữa vừa kiếm chút tiền rau cỏ.
“Cô bảo này, cả ngõ dọn đi hết rồi, còn mỗi ông già nhà mày thôi đấy. Mấy chị em phải thay nhau khuyên nhủ vào, không bán ngay, sau này khó!”
“Chị em chúng cháu nói hết nước hết cái rồi đấy ạ mà bố cháu không nghe. Cụ phán rồi, không bán là không bán, tính bán thì đợi cụ xuống lỗ rồi muốn làm gì thì làm. Trong nhà bố cháu làm chủ, sổ đỏ cũng viết tên bố, chị em chúng cháu chịu thôi.”
“Dở quá! Chả biết lão Căn lão định thế nào. Hôm bữa thấy cái Uyên dẫn người vào, cô còn tưởng…”
“À, người ta báo giá 2 tỉ mấy trăm, bố cháu lại cố tình làm khó, hét tận 5 tỉ, có muốn mua cũng chạy mất dép.”
Bà Bình chép miệng thở dài, anh Trí cũng gục đầu ngao ngán. Lão Căn năm nay đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng tinh thần vẫn quắc thước, cặp mắt vẫn tinh ranh, cái miệng vẫn xéo xắt. Tính lão gia trưởng độc đoán, bảo sao là vậy. Đám con đã lớn ngồng mà cứ hễ trái ý, lão vẫn mắng xơi xơi. Chuyện nhà cửa, lão kiên quyết hơn bao giờ hết, ai khuyên cỡ nào vẫn vững như kiềng ba chân. Lão Căn cố chấp canh giữ cái nhà xập xệ như gà mẹ khư khư quả trứng báu. Cũng chỉ mình lão cứng đầu cứng cổ chứ cả ngõ, chả ai dại dột bỏ qua cơ hội vàng.
Nhà lão Căn chỉ vỏn vẹn một sàn chật chội. Mở cửa ra là mọi ngóc ngách đã thông thống đập vào mắt, rõ đến từng cái mạng nhện vắt vẻo góc tường. Đồ đạc trông la liệt nhưng toàn chổi cùn rế rách. Bốn mặt tường đã đánh mất màu sơn nguyên bản, vừa bong tróc vừa mốc meo. Cái chạn sát lối vào lèo tèo vài cặp bát đũa, thêm bếp ga, thùng gạo là thành khoanh bếp nhỏ. Bộ bàn ghế gỗ cũ mèm, nước sơn ngoài đã phai từ lâu, bầu bạn với cái tủ kính chẳng bày gì ngoài đống bằng khen từ đời nào của anh chị.
Lúc này, lão Căn đang ngồi chân co chân duỗi trên ghế. Mùi thuốc lào hăng hắc, lọn khói mỏng chưa bay được lên trần nhà đã tan vội.
“Bố! Con mua con vịt, bố dùng luôn cho nóng.”
“Biết thế mà anh còn lần khân ngoài đấy mãi. Con mụ Bình lại tọc mạch cái gì?”
“Kìa bố, nói thế phải tội người ta. Hàng xóm bao năm, người ta hỏi chuyện, chả nhẽ con lờ đi?”
“Hàng xóm cái con khỉ! Chúng nó ham tiền hám của, bán hết đất đai nhà cửa rồi còn đâu! Đúng là…!”
Thấy lão Căn hậm hực vô lý lại nói không nên lời, anh Trí vừa giận vừa thương. Anh ngồi xuống, so đũa sắp bát, gắp cho lão một miếng thịt đùi mềm tơi. Lão Căn già rồi, chửi người thì được chứ nhằn xương thì không.
“Bố này, xung quanh dọn đi hết rồi, sau này ngõ không còn là ngõ nữa. Người ta mà xây khách sạn lên, bố vừa ra cửa là chình ình cái tường, lối đi không phi được xe vào. Chị em con về thăm bất tiện mà bố ở một mình sao bọn con yên tâm được?”
Lão Căn không lên tiếng.
“Bố chẳng bảo khoái trồng cây còn gì? Bán nhà đi, mua căn khác rộng rãi, xa trung tâm nhưng thoáng đãng, có sân có vườn, chả thoải mái hơn à? Không thì bố về ở với con, tiện ích đầy đủ, ban công tùy bố bày biện. Trước thì suốt ngày bố chê ngõ chật ngõ bẩn, sao giờ có cơ hội, bố lại không chịu đi?”
“Tao muốn om lâu để hét giá cao hơn đấy! Được chưa?” Lão Căn bực dọc gắt gỏng.
Anh Trí nhìn lão chằm chằm. Lão giận nên nói lẫy thế thôi chứ anh hiểu, lão tiếc. Người già khó thay đổi, lão Căn càng sống nặng tình, không thì đã chẳng nai lưng làm gà trống nuôi con suốt bao năm nay. Phải rời xa ngôi nhà, con ngõ và nếp sinh hoạt quen, sao lão nỡ. Lão trót thương chốn này rồi, coi nó như hơi thở, máu thịt, như một phần tạc tạo nên mình.
Lão Căn vốn người nhà quê, đi lính về thì thầy u mất cả, không muốn sống cảnh bán mặt cho đất bán lưng cho trời bèn lên thành phố tìm đường mưu sinh. Lão tới ngõ ngay từ những ngày đầu bươn chải, phải ở ghép rồi dần dần thuê được cả căn nhà cho riêng mình và vợ con. Đến khi anh Trí ra đời thì nhà đã sang tên lão. Nói không ngoa, từng mảng sơn tường, từng miếng đá lát đều được lão và vợ chắt chiu, thu vén. Căn nhà bé như cái vỏ hạt dưa, tối tù mù, dù sau này vợ mất, con cái ra riêng, mình lão ở vẫn chẳng thấy rộng rãi hơn bao nhiêu. Nhưng cũng vì chật chội mà từng vết sứt trên tường, vết ố dưới sàn, lão Căn đều nhớ hết, đều khảm vào lòng mà xót xa, tự hào. Nhà cũng thương lão Căn, bện dính hơi thở nặng vị thuốc lào và cái mùi chua chua, ngai ngái của lão trong từng ngóc ngách. Lão Căn thành gia lập nghiệp ở đây. Từ một thân một mình tới vợ con đề huề rồi lại về cô quả neo đơn, bầu bạn bên cạnh không phải con cháu mà vẫn luôn là nhà, là ngõ.
Biết không khuyên nổi bố, anh Trí thở dài. Từ ngày mâu thuẫn chuyện nhà cửa, anh thấy số lần mình thở dài nhiều quá, những tiếng thở mệt mỏi, bất lực, dài thật dài chật chội căn nhà nhỏ. Anh qua loa giải quyết bữa ăn rồi trải chiếu ra giữa nhà. Đêm nay, anh sẽ ngủ lại với bố.
Đêm ở đây bao giờ cũng sâu và tối hơn đêm ở những nơi khác. Đêm cũng tĩnh mịch hơn dù ngõ nằm ngay giữa trung tâm thành phố. Điều bí ẩn của ngõ hẻm chăng? Ngõ khuất nên trăng khuya rọi không tới. Ngõ sâu nên tiếng cộ xe khó lọt vào. Những gì người ta nghe được trong đêm dường như chỉ có tiếng lòng mình thao thức. Ký ức là chiếc đèn kéo quân, lũ lượt tua lại những thước phim quá vãng.
Anh Trí nhớ hồi còn bé, mẹ mới mất, nhà chưa xây gác lửng, đêm nào bốn bố con cũng trải chiếu nằm ngả ra thế này. Có hôm mưa to, giọt vắn giọt dài gõ trống lên miếng tôn che trước hiên. Nước mưa dềnh lên từ miệng cống, thoáng khăm khẳm mùi rác rến chưa trôi, còn thấm ướt trần nhà, bôi những vệt sậm màu lên góc tường meo mốc. Hai chị gái rủ rỉ ước được ở nhà đẹp, phòng riêng khô ráo. Anh cũng hăm hở hứa sau này sẽ học thật giỏi, làm thật lớn để xây cho bố và chị nhà cao tầng lộng lẫy. Lão Căn phe phẩy quạt cười xòa, nói bố cũng mong chúng mày sau này công thành danh toại, ở nhà lầu, đi xe hơi. Bố thì thôi. Bố ở đây ôm hương hỏa của ông bà, của mẹ chúng mày, có xóm giềng, có nếp ngõ thân quen, đi nơi khác bố khó chịu lắm. Ở đâu lâu, mình thương yêu gắn bó, bỏ sao được…
Trong cơn mơ màng, anh Trí chợt nghĩ hay là mình vẫn chưa đủ trưởng thành và hiểu biết, không thì sao mãi tới tận giờ vẫn chưa thể đồng cảm với niềm thương cố chấp của bố?
Mới năm, sáu giờ sáng, anh Trí đã hốt hoảng bật dậy trong mớ tạp âm gay gắt. Giọng lão Căn đang gân cổ đôi co với ai. Hóa ra, thợ xây trong lúc dỡ bức tường bên cạnh đã vô tình tước mất một mảng tường nhà anh. Ngày xưa nhà xây tiết kiệm, dựng tường sát rạt còn không trát vách nên chuyện này dễ xảy ra.
Vốn chẳng có gì nghiêm trọng nhưng Lão Căn tích tụ lâu nên kiếm cớ trút giận. Lão không chấp nhận bồi thường, còn đổ cho đối phương cố tình phá hoại để đuổi khéo lão đi. Thấy bố ăn nói hàm hồ, anh Trí vội gàn lại và đứng ra giải quyết. Bức tường gạch trần trụi nhà lão Căn được trát lại. Lớp vữa mới màu xám non mịn màng phơi mình dưới vạt nắng nay đã tạm chan hòa hơn vì vắng bóng những tầng nhà xung quanh.
Chẳng bao lâu sau, người ta đã bắt tay vào đào nền, đổ móng. Trước Tết Dương một ngày, khách sạn mười mấy tầng đã xây xong. Ngày khai trương, tiếng kèn trống luồn lách trôi vào lối đi hẹp bên hông. Nó dò dẫm trong bóng tối, mãi mới chen được tới mảnh trời tí hin nơi có căn nhà cổ lão, cũ mòn.
Ngôi nhà rúm ró trong phần tàn tích còn sót lại của một con ngõ, dù giờ ngõ đã chẳng còn là ngõ trong trí nhớ của lão Căn nữa. Trong không khí nồng nặc thứ mùi nẫu não như mùi bắp cải thối khiến người ta nôn nao, nhờn nhợn. Mùi lạ trộn với khí điều hòa khò khè phả ra từ hơn chục cục nóng treo mình trên bức tường cao cách đó chỉ độ hai mét. Có chiếc lá nào héo khô, lảo đảo chao nghiêng, nằm bải hoải trước cửa nhà bỏ ngỏ rồi lại giật mình nhấp nhổm khi tiếng bước chân dồn dập vang lên. Người ta chạy xộc vào rồi lại khiêng ra một cơ thể già nua ngất lịm, tím tái. Gió từ những bước chân vun chiếc lá vào góc nhà, quét cả những ký ức lặng lờ vào chung với nỗi buồn mục nát.
***
“Cảm ơn anh nhiều lắm! Cũng may có nhân viên bên anh kịp thời phát hiện, nếu không…”
Anh Trí rưng rưng siết chặt tập hồ sơ trong tay. Ngày ấy lão Căn ở nhà nấu nướng, sơ hở thế nào mà bình ga bị rò cũng không biết. Từ ngày khách sạn bên ngoài xây lên, không khí trong nhà lão Căn vẫn luôn ngột ngạt, bức bí, hỗn loạn các loại mùi. Nhất thời, lão chẳng để ý thấy mùi ga đã choán ngợp không gian. Lão lịm đi gần như ngay lập tức, cũng may có cậu nhân viên vòng ra phía sau lấy đồ mới phát hiện điều bất thường, vội hô hào mọi người tới cứu giúp.
Lần cận kề sinh tử ấy như bòn rút hơn nửa sức sống trong người lão Căn. Lão gầy xọp đi, đáy mắt trũng sâu mỏi mệt. Ngày lão xuất viện cũng là lúc trên phố đã rộn ràng không khí Tết. Các con không cho lão quay lại nhà cũ nữa, anh Trí đón lão về căn chung cư của mình, bảo là cuối năm đoàn viên cho ấm cúng. Lão Căn như nhánh cỏ dập nát sau mưa, hon héo, yếu gầy. Lão nằm lọt thỏm giữa nệm giường thẳng thớm, đôi mắt uể oải nhìn đám con chừng như tóc đã thêm sợi bạc, mặt cũng thêm nếp nhăn vì mình. Rốt cuộc, lão cũng ngậm ngùi đồng ý bán nhà trước sự van vỉ khuyên lơn hết lời của con cháu.
Hôm hoàn tất thủ tục, lão Căn mới về lại chốn cũ. Cốt nhà của lão đã bị dỡ xuống, nghe đâu người ta sẽ xây một kho chứa đồ ở đây.
Lão Căn mò mẫm chân thấp chân cao trên đống ngổn ngang đã từng là nhà, không nhìn ra được mảng tường nào từng có bức vẽ ngô nghê bằng sáp màu của con Uyên, mảng tường nào chi chít hình dán hoạt họa của con Ly, mảng tường nào có những vạch bút bi đo chiều cao của thằng Trí… Căn nhà từng bao bọc tuổi trẻ của lão và tuổi thơ của đám con rốt cuộc cũng dỡ được gánh nặng đời mình mà sụp xuống, nhả hơi thở già nua rũ rượi vào hư không. Có lọn nắng mảnh như tơ rọi vào, bẻ cong bóng lão Căn in trên vách nát. Gió ẩm lạnh, thứ gió đặc trưng của ngõ, quấn lấy gấu quần lão, bịn rịn nửa như níu kéo, nửa như tiễn đưa. Nó nói, lão cứ yên tâm mà đi. Nó sẽ nhớ lão, như lão sẽ luôn nhớ về những năm tháng trong con ngõ nhỏ giữa trung tâm thành phố, chốn bình yên dung dị giữa náo nhiệt xô bồ.
Lão Căn về ở với anh Trí.
Nhà anh Trí nằm trên tầng mười lăm một căn chung cư vùng ven đô. Nơi cao nên không khí cũng trong lành, không quá xa trung tâm lại gần sông, gần cầu. Nhà có hai phòng ngủ một chính một phụ, anh Trí muốn nhường bố phòng chính nhưng lão Căn nhất quyết không chịu. Lão bảo các con gọi người đóng cái bàn thờ chạm trổ đẹp đẽ trong phòng ngủ phụ, bày di ảnh thầy u và vợ lên rồi kê cái sập lùn, trải tấm nệm mỏng nằm luôn ở đó.
Chỉ còn vài tuần là năm hết Tết đến. Lão Căn tranh trước thời gian, bước sang trang đời mới tại nơi này. Sáng, lão dậy sớm đi bộ vài vòng dưới sân chung cư. Không cần hở ra là bị hàng quán bành trướng ép phải xuống hẳn lòng đường nên bước chân lão cũng trở nên thong thả và ung dung. Trưa, lão ăn uống đơn giản rồi lim dim hong khô giấc nồng trong tiếng cải lương cùng cái nắng vàng hươm của ngày. Chiều, lão xách làn đi chợ, đặt sẵn nồi cơm, luộc mớ rau con, xào một chảo thịt rồi đợi anh Trí về nhà sau ngày dài vất vả. Tối, lão ngồi vắt chân trên chiếc ghế bập bênh được anh Trí lót nệm kê ngoài ban công, vừa nhâm nhi tách trà loãng vừa dõi mắt ngắm dòng chảy ánh sáng từ xe cô tấp nập trên những nhịp cầu uốn lượn ngoài xa. Đêm, lão nằm trong căn phòng khô ráo, trần cao và tường thơm mùi sơn mới, thấy cả người nhẹ nhàng lâng lâng đi vào giấc ngủ. Anh Trí tâm lí, những vật dụng nhỏ xinh gợi nhắc nhiều kỉ niệm được bày biện khéo léo trong phòng lão Căn và khắp mọi ngóc ngách ngôi nhà, nào khung ảnh cũ, bức tượng nhỏ, cái tủ con, chiếc đồng hồ… Nhà trong ngõ không còn nhưng dường như nhà vẫn thân thương ôm lấy cơ thể già nua sau một đời tần tảo của lão Căn.
Thùy Linh





