“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn; song chân lý đó không bao giờ thay đổi”
– Hồ Chí Minh –
Có những câu thơ trở thành một thứ ký ức chung. Người ta nhắc lại chúng khi nói về đất nước, về cội nguồn, về những cuộc chia ly, về những lần đi xa mà lòng vẫn ngoái về nơi bắt đầu.
“Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.”
Chỉ mười bốn chữ, mà như tạc lại bao nhiêu gương mặt của lớp lớp cha ông.
Vì đó mà “Nhớ Bắc” đã trở thành tiếng nói của cả một miền đất phương Nam hòa cùng đại mạch của dân tộc. Nó khẳng định rằng phương Nam dù đi xa đến đâu vẫn còn ngoái về Thăng Long. Hành trình mở cõi vì thế cũng là hành trình đem cội nguồn đi xa hơn. Mỗi tấc đất mới trên dải chữ S này đều được nối với đất tổ bằng một sợi dây vô hình: ký ức.
***
Viết tại chiến khu Đ giữa thập niên 40, trong những ngày vận nước còn mịt mù, “Nhớ Bắc” là nơi mang nhiều nỗi niềm cùng lúc: hiện tại kháng chiến soi vào quá khứ mở cõi, miền Nam nắng gió ngoái về miền Bắc cội nguồn, nỗi nhớ riêng tư nâng lên thành lời khẳng định mãnh liệt về sự liền mạch của non sông.
Huỳnh Văn Nghệ là một trường hợp đặc biệt của văn học và lịch sử Việt Nam thế kỷ XX. Người đời gọi ông là “thi tướng”. Danh xưng ấy nghe qua tưởng như một mỹ từ, nhưng đặt vào đời ông thì gần như là một cách gọi chính xác. Ông làm thơ giữa những năm binh lửa, cầm quân giữa những miền rừng chiến khu, sống trong thời đại mà người trí thức chẳng thể chỉ ngồi yên bên trang giấy, còn người chiến sĩ cũng không nỡ để tâm hồn mình khô cạn trước súng đạn.
Ở Huỳnh Văn Nghệ, cây bút và thanh gươm hòa hợp vào nhau rất tự nhiên. Thơ ông nảy nờ lên từ chính cuộc đời đầy giông bão: từ chiến khu, từ bưng biền, từ nỗi nhớ, từ những ngày đất nước bị đặt giữa lằn ranh sống chết. Bởi vậy, “Nhớ Bắc” là nỗi nhớ của một người đứng ở phương Nam trong thời đất nước bị đe dọa chia lìa; nỗi nhớ của người cầm súng mà vẫn đau đáu ngoái về Thăng Long như ngoái về điểm tựa tinh thần của cả dân tộc.
Hành trình hình thành bài thơ cũng nhiều trắc trở như chính thời đại đã sinh ra nó. Theo những tư liệu hiện còn được nhắc lại, “Nhớ Bắc” được Huỳnh Văn Nghệ phác thảo từ khoảng năm 1944, trong dư âm bi tráng của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và những năm tháng hoạt động bí mật đầy hiểm nguy. Là một đảng viên cách mạng, ông từng phải đào thoát sang Thái Lan sau khi bị truy bắt vào năm 1942. Trong thời gian lưu lạc, ông chủ trương tờ báo “Hồn cố hương”, kêu gọi kiều bào hướng về Tổ quốc. Những chi tiết ấy cho thấy nỗi nhớ trong thơ Huỳnh Văn Nghệ đã được nung trong lưu vong, truy đuổi, thất lạc và khát vọng trở về.
Phải đến năm 1946, khi thời vận dân tộc đã đổi khác sau Cách mạng tháng Tám, “Nhớ Bắc” mới chính thức ra mắt bạn đọc. Bài thơ sau đó còn được chỉnh sửa ở một vài chỗ khi in lại, vì thế hai câu thơ nổi tiếng nhất của Huỳnh Văn Nghệ tồn tại trong một vài dị bản: khi là “mở nước / nghìn năm”, khi là “mở cõi / Trời Nam”. Nhưng dù đi qua dị bản nào, phần lõi cảm xúc vẫn không đổi: người phương Nam nhớ Bắc bằng một nỗi nhớ vừa riêng tư vừa lịch sử; nhớ Bắc để khẳng định rằng phương Nam chưa bao giờ là một mảnh đất rời khỏi cội nguồn dân tộc.
***
Mở đầu bài thơ, Huỳnh Văn Nghệ viết:
“Ai về xứ Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng.”
Câu thơ cất lên như một lời xin đi nhờ, nhưng bên dưới cái giọng tưởng chừng bình thường ấy là cả một cơn sóng tâm tình. “Ai về xứ Bắc ta đi với”, chỉ một câu thôi mà nghe như có người đã đứng chờ rất lâu bên một ngả đường. Chờ một chuyến đi, chờ một tin tức, chờ một cơ hội được nhìn lại miền đất mình vẫn mang trong lòng. Hai từ “đi với” rất hay. Nó là tâm thế của người đang bị giữ lại bởi thời cuộc, nhưng lòng đã lên đường trước thân xác. Người ấy chưa thể ra Bắc, nhưng chỉ cần nghe có ai về Bắc là trong lòng đã muốn gửi theo cả nỗi nhớ.
Và đích đến của nỗi nhớ ấy là “non sông giống Lạc Hồng”. Huỳnh Văn Nghệ gọi Bắc bằng huyết thống văn hóa. “Lạc Hồng” ở đây là cách người phương Nam tự nhắc mình rằng mình là một cành vươn xa từ thân cây chung của dân tộc.
Đến hai câu sau, bài thơ vụt sáng:
“Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.”
Đây chính là trung tâm đưa bài lên huyền thoại. Nếu đọc nhanh, người ta dễ bị cuốn vào vẻ hào sảng của khí phách của một dân tộc từng đi qua hàng ngàn năm mở đất. Nhưng cái tài của Huỳnh Văn Nghệ nằm ở chỗ: ông không để câu thơ kết thúc bằng vũ khí. Ông để nó kết thúc bằng nhớ. Gươm chỉ là phương tiện của một thời. Nỗi nhớ mới là căn cước của nghìn đời. Người Việt đi mở cõi, mang theo tiếng nói, phong tục, đình làng, lễ nghĩa, ký ức tổ tiên, những câu ca dao, những cái tên thiêng liêng từng nằm trong tâm thức nhiều thế hệ. Trong hành trang vô hình ấy, Thăng Long là một biểu tượng lớn. Thăng Long không chỉ là kinh đô. Thăng Long là chỗ neo đậu của trí nhớ dân tộc.
Bởi vậy, “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” có sức lay động lạ thường. Nó đặt phương Nam và Thăng Long trong cùng một nhịp đập. Nó nói rằng người đi xa càng xa, nỗi nhớ gốc nguồn càng sâu. Nó biến hành trình mở cõi thành một hành trình mang theo cội nguồn trong huyết quản.
***
Ngay sau đó, Huỳnh Văn Nghệ gọi tên Nguyễn Hoàng:
“Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang”
Câu thơ đưa người đọc trở lại với một nhân vật lịch sử gắn sâu với hành trình Nam tiến. Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, rồi từ đó mở ra cuộc Nam Tiến của lịch sử Việt Nam. Nhắc Nguyễn Hoàng, Huỳnh Văn Nghệ nhắc đến một khúc quanh lịch sử: từ một vùng tiên tổ, dân tộc bắt đầu đi về những miền đất mới, xa hơn, rộng hơn, dữ dội hơn.
Nhưng sau tiếng gọi “Ôi Nguyễn Hoàng!” lại là một câu thơ rất lạ: “Mà ta con cháu mấy đời hoang”. “Hoang” ở đây gọi lên rằng vì còn nhớ nguồn gốc nên người Nam như ông mới thấy mình “hoang”. Người ở phương Nam đã qua nhiều đời xa kinh kỳ, xa đất tổ, xa những trung tâm văn hiến cũ. Họ sống giữa rừng mới, đất mới, sông rạch mới, khí hậu mới, tập quán mới. Họ thành những con người của biên viễn, của khai phá, của chống chọi. Cái “hoang” ấy là nỗi cô đơn của một nhánh dân tộc đi quá xa khỏi nơi khởi đầu:
“Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.”
***
Đây là nơi “Nhớ Bắc” đạt đến vẻ đẹp mềm mại nhất:
“Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng”
Đây là khổ thơ rất đáng dừng lại lâu vì Huỳnh Văn Nghệ đang nói bằng từng giác quan.
Trước hết là âm thanh. Quan họ gợi về miền Bắc, nhất là vùng Kinh Bắc, với những làn điệu chậm rãi, duyên dáng, níu kéo. Nhưng ngay sau đó là vọng cổ buồn, âm thanh của phương Nam, có cái mênh mang của sông nước, ngân dài của đêm khuya, buồn dìu dịu của những phận người lênh đênh giữa đồng bằng, kênh rạch, bến đò. Một câu Bắc, một câu Nam. Một tiếng hát cổ truyền miền ngoài, một điệu buồn thấm sâu miền trong. Hai âm thanh ấy xen nhịp vào nhau, hòa vào nhau thành một bản nhạc chung trong tâm tưởng người Việt.
Sau âm thanh là hương vị. Mùa vải đỏ gọi về miền Bắc bằng màu sắc, mùa màng, vị ngọt của ký ức ở những miền Thanh Hà (Hải Phòng), Lục Ngạn (Bắc Ninh)… Hương sầu riêng kéo ta về phương Nam bằng một mùi hương nồng, mạnh, khó quên ở miệt vườn miền tây. Đặt vải đỏ bên cạnh sầu riêng, Huỳnh Văn Nghệ để Bắc và Nam gặp nhau trong một mâm trái cây hứa hẹn một tương lai sung túc cho dân tộc nếu một mai giành lại độc lập.Bài thơ thống nhất đất nước ngũ quan, tác động vào những điều nhỏ bé nhất mà bền bỉ nhất trong đời sống. Chính vì thế, nó tránh được sự khô cứng của tuyên ngôn. Nó khiến ý niệm non sông một dải trở nên mềm, sống, có hương, có tiếng, có mùa.
***
Càng đọc “Nhớ Bắc”, ta càng thấy “nhớ” là một động lực tinh thần. Nhớ để không lạc gốc, chia lìa. Nhớ để khẳng định mình thuộc về một dòng lịch sử chung.
Bởi vậy, khi bài thơ đi đến những câu:
“Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta”
thì nỗi nhớ đã chuyển thành lời gọi thiêng liêng.
Cổ Loa là dấu tích của buổi đầu dựng nước và giữ nước. Hoàn Kiếm là biểu tượng của chiến thắng, của thanh gươm được trao khi đất nước cần, rồi trả lại khi thái bình. Nhắc Cổ Loa và Hoàn Kiếm, Huỳnh Văn Nghệ đang nối cuộc chiến của thế kỷ XX với mạch sử xa xưa. Câu hỏi “Bao giờ mang trả kiếm dân ta” nghe như một lời hỏi cụ rùa hồ Gươm, nhưng thực ra là một lời hỏi lịch sử: bao giờ thanh gươm giữ nước có thể trở về với mặt hồ, bao giờ những người đang cầm súng ở phương Nam được nhìn thấy đất nước liền một dải?
***
Đặt “Nhớ Bắc” vào bối cảnh kháng chiến nửa sau những năm 1940, ta càng thấy bài thơ không thể bị đọc như một khúc hoài cổ thông thường. Khi thực dân Pháp tìm cách tách Nam Bộ khỏi Việt Nam, rồi dựng nên cái gọi là Cộng hòa Nam Kỳ tự trị trong giai đoạn 1946 – 1949, những đường ranh chính trị đã bị vạch thẳng lên thân thể đất nước. Trong bối cảnh ấy, một người Nam Bộ viết “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” chính là đang tuyên bố bằng thơ rằng: không có một “Trời Nam” nào đứng lìa Thăng Long, cũng không có một Thăng Long nào xa lạ với Trời Nam.
Huỳnh Văn Nghệ dựng một miền ký ức, nơi quan họ và vọng cổ cùng vang lên, nơi vải đỏ và sầu riêng cùng tỏa hương, nơi Cổ Loa và Hoàn Kiếm hiện ra giữa chiến khu Đ, nơi người phương Nam đứng giữa rừng mà vẫn nghe Thăng Long gọi trong lòng.
“Nhớ Bắc” vì thế mang nhiều lớp nghĩa. Lớp ngoài là nỗi nhớ quê hương, nhớ miền Bắc, nhớ Thăng Long. Lớp sâu hơn là ký ức Nam tiến, là tâm thế của người Việt phương Nam khi nhìn về cội nguồn. Lớp sâu hơn nữa là lời khẳng định thống nhất dân tộc trong một thời đoạn lịch sử đầy âm mưu chia cắt. Nhưng lớp sâu nhất, có lẽ, vẫn là tình dân tộc.
Từ độ mang gươm đi mở cõi, người Việt đã đi rất xa.
Nhưng trong sâu thẳm Trời Nam, Thăng Long vẫn chưa bao giờ xa cả.
Ngô Tiến Vinh





