Chúng ta đã cùng đi qua những trang đầu của cuộc đời bà Nhữ Thị Thục – người đàn bà đã “đặt cược” cả thiên mệnh vào đứa con trai (phần 1). Và nếu như việc chọn chồng khi ấy là một sự quyết đoán đầy lý trí, thì những năm tháng nuôi dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm tại huyện Vĩnh Lại là một hành trình đầy rẫy những vết thương lòng và sự xung đột.
Dưới căn nhà nhỏ bên huyện Vĩnh Lại. Một bên là người mẹ Nhữ Thị Thục, người mang trong mình tầm nhìn của một vị quân sư đi trước thời đại cả mấy trăm năm với khát vọng kiến tạo một bậc Đế vương. Một bên là người cha Nguyễn Văn Định, thầy đồ nho nhã, hiền lành nhưng lại mang trong mình nỗi sợ hãi thâm căn cố đế của những nhà nho đương thời. Chiếc nôi của cậu bé Nguyễn Văn Đạt – hay Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này – vô tình trở thành một chiến trường. Ở nơi đó, những tư tưởng ngược chiều, mỗi lời ru, bài học vỡ lòng đều mang theo sự tranh đấu.
Bà Thục luôn có mong muốn con mình được làm vua chúa, người xoay vần thế sự, vì bà tin rằng trong một đất nước đang đứng trước ngưỡng cửa của sự suy vong, chỉ có người có chí lớn, có tầm vóc mới đủ sức gánh vác trăm họ. Còn ông Văn Định với bản tính hiền lành, ông nào có mơ được đến những điều xa xỉ ấy. Làm vua? Làm chúa ư? Đó là những khái niệm quá xa vời, thậm chí là hiểm họa. Ông chỉ mong con mình được khỏe mạnh, được sống một cuộc đời êm đềm như dòng sông, ngọn cỏ, tránh xa mọi thị phi của triều đình.
Chuyện kể, một lần khi bà Thục đi chợ, ông Định ở nhà chơi đùa với con. Trong không gian thanh bình của làng quê, ông Định buộc sợi dây vào cành tre, kéo lên kéo xuống và ngâm đùa rằng: “Nguyệt leo cung, nguyệt leo cung…”. Đứa trẻ vốn dĩ có tư chất thông minh khác người, lập tức đáp lời cha bằng một câu đối: “Vén tay tiên nhẫn nhẫn dong”. Ông Định vui sướng vô cùng, ông thấy con mình thật lanh lợi. Sau ông kể lại chuyện đó cho bà Thục nghe, cốt muốn khoe chiến tích của tình cha con. Nhưng ông nào hay biết, đối với bà Nhữ Thị Thục, câu đối ấy như một tiếng sét đánh ngang tai. Bà giận tím mặt, ánh mắt tràn đầy sự thất vọng. Bà nói thẳng với chồng: “Nuôi con thì mong con được làm vua làm chúa, cớ sao thầy nó lại dạy con làm bầy tôi?”. Trong thế giới của bà, “Nguyệt” – mặt trăng – luôn đứng dưới mặt trời, tượng trưng cho bầy tôi đi sau. Sự giận dữ của bà là sự lo âu khi thấy tư duy của đứa trẻ bị gò bó vào những khuôn mẫu an toàn tầm thường.
Lại có lần, khi bà đi vắng, ông Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con. Thấy câu thơ bà viết: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng”. Ông Định hoảng sợ đến toát mồ hôi. Ông sợ rằng nếu con sau đọc câu này, hoặc họa mai này có kẻ gian nghe được, thì đó là tội phản nghịch, họa sát thân cho cả gia tộc. Trong cơn hoảng loạn, ông lập tức sửa chữ “tựa” thành chữ “vịn”. Khi biết chuyện, bà Thục đã than thở: “Sinh con ra, mình thì mong con làm vua thiên hạ. Nay thầy nó lại cứ dạy con làm thần tử, chán quá!”.
Những chuyện vụn vặt ấy thôi, đủ thấy bà đã cô độc thế nào trong chính căn nhà của mình. Bà nhìn thấy ngai vàng, cơ đồ, ông Định thì chỉ nhìn thấy cái họa sát thân. Đối với bà Nhữ Thị Thục, việc sống với một người khác tầm nhìn, chí hướng là một sự tra tấn tinh thần dai dẳng. Bà hiểu rằng, muốn làm được việc lớn, phải có bản lĩnh lớn. Mà bản lĩnh thì không thể sinh ra trong một môi trường sống cứ sợ hãi.
Sự quyết đoán của bà lại một lần nữa trỗi dậy, và lần này, bà chọn cách “ly hôn” – một hành động mà xã hội phong kiến lúc ấy chắc chắn sẽ coi là sự “phản nghịch” của đạo làm vợ. Bà bỏ về quê mình là Làng An Tử Hạ, mang theo con trai.
Tại quê ngoại, dưới sự chỉ bảo của một vị Thượng thư thông tuệ và sự kỳ công của người mẹ tài hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lớn lên như một cây cổ thụ vươn mình ra khỏi bóng tối của những giáo điều. Tất cả nhờ sự kiên định của một người mẹ muốn “cải vận” cho con mình. Bà đã dùng cuộc hôn nhân làm cái giá để mong đổi lấy một tương lai huy hoàng cho Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này. Bà dạy con từ cách chơi bi, thả diều cho đến thuật lý số, Thái Ất Thần Kinh. Bà không chỉ là mẹ, bà là người thầy đã vẽ nên bản đồ tư duy cho một vĩ nhân tương lai. Những ngày tháng ở An Tử Hạ chính là bệ phóng hoàn hảo, nơi hun đúc nên một Trạng Trình – người mà sau này “lý học tinh thông, hai nước anh hùng không đối thủ”.
Câu chuyện về bà Nhữ Thị Thục trong bài viết là sự tổng hợp và chắp bút từ nhiều nguồn tư liệu kết hợp cùng những tích cổ, giai thoại dân gian được truyền tụng qua nhiều thế hệ. Đây là nỗ lực tái hiện hình tượng nhân vật lịch sử dưới góc nhìn văn học, bài viết không mang tính chất của một tài liệu lịch sử hay khảo cứu chính thống.
Thanh Ngân





