Sau những tháng năm dãi dầu mưa nắng và khói lửa của hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ở Tây Nam và phía Bắc, rồi ra quân mải miết với cơm áo gạo tiền cho cuộc sống thường nhật tại mấy xí nghiệp ở tỉnh xa. Một ngày nọ tôi nhận được quyết định nghỉ hưu, trở lại quê với mái nhà xưa của ông cha để lại.
Có được món tiền trợ cấp khi nghỉ hưu cộng với sự hỗ trợ của con cái và họ hàng, tôi bàn với vợ và quyết định xây sửa lại căn nhà đã quá xuống cấp bởi thời gian.
Hôm ấy lên thị trấn phố huyện vào cửa hàng cơ khí đặt làm mấy chiếc hoa sắt cho cửa sổ. Đưa kích thước, tính tiền và tạm ứng xong tôi hỏi anh chủ cửa hàng:
Làm xong có cho người mang hoa cửa sắt tới nhà cho tôi được không vì nó cồng kềnh và tôi lại không có phương tiện gì chở được?
Dạ, được bác ơi! Nhà bác ở đâu, cho em địa chỉ em sẽ có người mang đến cho ạ.
Nhà tôi ở làng Hạ, cuối xóm
Ôi trời, em cũng người làng Hạ đây, em là con mẹ Xe bác ạ!
Ôi, thế à! Cô Xe nhà bà Kiền phải không?
Dạ đúng ạ. Bà em mất lâu rồi, giờ chỉ còn mẹ em thôi. Em thì đi làm thuê cơ khí trên tỉnh từ lúc mới lớn, rồi khi tay nghề vững vàng em về mở xưởng và sống ở đây luôn. Mà chắc bác đi thoát ly ít khi về làng nên em chưa gặp.
– Giỏi quá, nhà bà Kiền với nhà mình là có họ hàng với nhau… Mình đi bộ đội từ lúc mười tám tuổi rồi ra quân chuyển ngành làm ở Quảng ninh thi thoảng mới về quê. Giờ đến tuổi hưu về hẳn làng.
– Vâng bác, bác cứ yên tâm về, em sẽ làm cẩn thận, sơn hẳn hoi xong rồi mang đến nhà cho cứ việc lắp thôi ạ.
Ra khỏi xưởng cơ khí, trên đường về tôi giật mình chợt nhớ ra. Ký ức về những năm tháng bom rơi, đạn nổ, tiếng máy bay gầm rít trên đầu với những con người nông dân chân chất và một miền quê nghèo khó của tôi ngày nào lại hiện về …
Hồi ấy giặc Mỹ mang máy bay ném bom đánh phá toàn miền Bắc và ở chiến trường miền Nam thì ngày càng khốc liệt, trai tráng trong làng, trong xã tôi cứ lần lượt ra trận. Người cứ đi, đến tuổi là lên đường nhập ngũ nên quê tôi hầu như vắng không có một bóng người con trai nào. Cả xã tôi khi ấy chỉ còn duy nhất một người đàn ông trong độ tuổi thanh niên là anh Đức ở nhà. Khi tôi lên chín, mười tuổi gì đó thì anh Đức làm y sĩ ở trạm y tế xã, việc của anh Đức là khám bệnh rồi cho thuốc những ai bị ốm vặt như nhức đầu, đau bụng, cảm gió… Những ai ốm vì bệnh nặng thì anh cho giấy và người nhà võng mang lên bệnh viện huyện.
Nhà anh Đức rất nghèo, cha anh mất sớm nhưng nhờ ý chí và nghị lực anh đã học và tốt nghiệp trung cấp Y rồi về phục vụ bà con trong xã. Không biết có phải là lý do địa phương không có cán bộ y tế để phục vụ mọi người mà trên không gọi anh đi bộ đội. Nghe nói anh cũng có mấy lần đi khám tuyển quân nhưng bị “chê”. Lúc đầu thấy họ nói có nhiều người bị “chê” là con cháu địa chủ, cường hào nên không được đi nhưng sau rồi họ cũng không chê ai cả, ai ai đến tuổi là lên đường. Anh Đức không phải con cháu địa chủ mà họ “chê” vì lý do gì tôi cũng không biết.
Ngày tháng cứ trôi đi trong tiếng máy bay gầm rít trên đầu cả ngày, cả đêm, chẳng mấy khi được ngủ yên đến sáng. Có đêm mấy lần đang ngủ ngon thì ông nội gọi dậy mắt nhắm mắt mở chạy xuống hầm trú ẩn. Chúng tôi đến trường với cái mũ rơm, vai đeo cái nùn rơm tròn to như cái mâm sau lưng để tránh đạn và mảnh bom. Bàn học là cái ghế băng, lúc ngồi học thì cho cái nùn rơm xuống đất rồi ngồi lên, khi có tiếng máy bay thì vội đeo cái nùn rơm ấy và đội mũ rơm rồi nhanh chóng chạy ra nấp trong cái hầm chữ A qua một dãy giao thông hào.
Tối về mấy anh em chụm đầu bên cái đèn dầu leo lét để giữa cái chiếu ông tôi dải dưới nền nhà để học bài. Khi bất chợt nghe tiếng máy bay là lại vội vàng thổi phụt cái đèn dầu đi rồi nhanh chóng chạy lao xuống hầm trú ẩn ông tôi đã đào ngay dưới gầm giường.
Tôi còn nhớ như in cái buổi tối hôm ấy các cán bộ xã đến nhà ông chú họ tôi là chú Kiên làm lễ truy điệu cho chú ấy đã mới hi sinh ở chiến trường. Chú Kiên là liệt sĩ chống Mỹ hi sinh được báo tử đầu tiên trong làng. Hôm ấy cô Xe vợ chú Kiên khóc nhiều lắm, khóc như mưa, như gió, còn bà Kiền mẹ chú Kiên thì cứ ấm ức khóc mấy ngày nằm lỳ không ra khỏi buồng.
Thế rồi cứ lần lượt hết nhà này, vài ba tháng lại có lễ truy điệu liệt sĩ ở nhà khác. Những thanh niên trai tráng trong làng tôi lớn lên lại ra đi và chẳng thấy ai trở về…
Bẵng đi một dạo, một hôm tôi nghe người ta xì xào về chuyện cô Xe vợ chú Kiên liệt sĩ bỗng dưng lại có bụng to, nghe nói sắp đẻ nữa. Chỗ này người ta bàn tán và rỉa rói cô, chỗ kia người ta người ta trách bà Kiền tại sao lại để con dâu có chồng mới hi sinh lại đi làm dân công đắp đê hàng nửa tháng trời xa nhà như thế. Ở một chỗ khác mấy bà rỉ tai nhau về tác giả của cái bào thai mà cô Xe đang mang, người ta xì xào là trong xã này chỉ có mỗi anh Đức là đàn ông con trai, nghe nói cô Xe đã “khai” với bà mẹ chồng là có “ngủ” với một anh đi xe đạp nhưng trời tối không nhìn rõ mặt.
Thế thì còn ai vào đây nữa, anh Đức hàng ngày đi đến trạm xá xã cũng bằng chiếc xe đạp Thống Nhất của trạm, áo bỏ trong quần, vai đeo túi thuốc nhìn oai lắm, thi thoảng chúng tôi đi học về cũng bắt gặp anh “kính coong” đằng sau xin tránh đường để cho anh đi trước. Điều rất lạ là dù đã rất lớn tuổi nhưng anh Đức không lấy vợ, người ta nói anh kén chọn. Thời buổi chiến tranh này thanh niên, trai tráng đi hết cả, con gái trong xã, ngoài làng hơ hớ ế đầy ra, anh vơ một cái thì có được cả tá cô.
Nỗi buồn của bà Kiền chưa nguôi ngoai vì chú Kiên hi sinh nay lại càng buồn hơn, đã mấy tháng bà không ra khỏi nhà, việc đồng áng giờ chỉ còn cô Xe với cái bụng chửa vượt mặt quần quật suốt ngày cắm mặt xuống không dám nhìn ai.
Chuyện của cô Xe chưa bớt xì xào thì mấy bữa nay làng tôi lại xôn xao chuyện cái bụng to bất thường của cô Thêm là vợ chú Mạnh liệt sĩ con ông Tuất xóm trên. Cô Thêm là cô giáo dạy ở lớp mẫu giáo, không đi đâu qua đêm bao giờ, cô Thêm còn là đảng viên và đã có với chú Mạnh một đứa con trước khi chú vào chiến trường.
Nghe nói người ta đã kiểm điểm rồi khai trừ ra khỏi đảng đối với cô Thêm, người ta còn nói cô Thêm khai là đã ăn nằm với một người đi xe đạp mà buổi tối không nhìn rõ mặt. Thế nên ai ai người ta cũng tin, cũng khẳng định người đó chính là anh Đức vì cả xã chỉ có anh Đức là con trai ở nhà, chỉ anh Đức có xe đạp…
Chiến tranh ngày càng khốc liệt hơn, làng xã quê tôi vắng lặng lạ thường. Con trai thì cứ đến tuổi là ra chiến trường, xóm thôn giờ chỉ toàn người già, phụ nữ và trẻ con. Cứ mấy tháng lại có cuộc truy điệu liệt sĩ vì thế trai tráng ra trận chẳng thấy ai trở về.
Rồi cũng quen, phụ nữ đàn bà đi cày rồi đi cấy, đến mùa thì gặt lúa, đốt đèn dầu đập thóc ở sân kho tới khuya mới về. Người ta cũng quen với việc có cô nào đó chửa hoang, rồi người ta đều quy cho anh Đức, mà chỉ quy thế thôi, phỏng đoán thế thôi chứ có ai bắt được quả tang anh đã ăn nằm với ai đâu!
Thời gian làng xã chúng tôi cứ trôi đi trong tiếng xì xào, bàn tán rằng cô này, cô kia tự nhiên mang bụng bầu. Còn anh Đức vẫn vậy, ngày ngày ở trạm xá khám, phát thuốc cho bà con, và cho đến giờ vẫn không chịu lấy vợ. Rồi tiếng to, tiếng nhỏ xôn xao cũng đến tai anh, nghe nói có lần bà chủ tịch xã còn nói thẳng cho anh biết những tin đồn về việc anh đã lợi dụng ăn nằm với nhiều phụ nữ là vợ liệt sĩ, anh Đức chỉ cười và nói : “Hàng ngày tôi làm không hết việc thì còn hơi đâu mà đi đôi co, phân trần những cái tin đồn vớ vẩn ấy! “.
Năm tôi bắt đầu đi học cấp ba trường huyện thì bất ngờ giặc Mỹ điên cuồng mang máy bay đánh phá miền Bắc rất ác liệt. Mùa đông năm ấy chúng mang cả máy bay B52 thả bom xuống Hà nội, Hải phòng… Có những buổi học chúng tôi chỉ có nấp trong hầm trong tiếng máy bay gầm rít. Rồi bị bộ đội phòng không tên lửa và pháo cao xạ của ta đánh trả quyết liệt chúng tháo chạy, thả bom vương vãi khắp nơi.
Hôm ấy, nghe nói anh Đức trên đường lên huyện nhận thuốc về cho trạm xá thì bất ngờ bị trúng mảnh bom địch thả ở cây cầu trên đường quốc lộ. Người ta mang xác anh về nhà đầm đìa máu, đỏ loang cả chiếc võng cáng trong tiếng gào khóc của bà mẹ anh Đức.
Đám ma đưa anh xong người ta lại xì xào hỏi dò nhau xem mấy người phụ nữ ấy có mang con lên viếng không? Là chỗ bà con họ hàng xa với gia đình anh Đức, hôm trăm ngày của anh tôi có theo bà nội lên viếng anh. Thắp hương cho anh xong bà tôi bảo :
– Giá như anh Đức lấy vợ sớm thì bây giờ hai bác có cháu, nhà sẽ bớt cô quạnh.
Vừa nói đến đấy mẹ anh khóc gào lên :
– Ôí giời, bà ơi! Vợ con gì, thằng Đức nó bị bệnh quai bị biến chứng từ bé, teo hết cả hai hòn d… rồi còn đâu mà vợ với con. Nó đi khám tuyển bộ đội mấy lần mà có được đi đâu.
Chuyện của anh Đức và chuyện các cô chửa hoang và những đứa trẻ không cha của các cô sinh ra rồi cũng lắng xuống nhường chỗ cho những khó khăn của những năm tháng đất nước chìm trong chiến tranh Tây nam và phía Bắc, rồi lại đến sự thiếu thốn vật chất của cuối thời bao cấp đến cái kim, cuộn chỉ, cái lốp xe đạp cũng phân phối. Học xong phổ thông nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc tôi hòa mình vào đội quân lên đường vào mặt trận Tây Nam đánh giặc Pol Pot khi mới mười tám tuổi … Rồi lại hành quân ra phía Bắc cùng đồng đội gìn giữ biên giới.
Tôi viết lại câu chuyện thật này của quê tôi khi bây giờ các “Đứa con hoang”, những đứa trẻ không cha của cô Xe, của cô Thêm và của mấy người nữa… ngày nào đều đã phương trưởng cả rồi. Thằng con cô Xe thì làm ông chủ một xưởng cơ khí ở thị trấn, đứa con cô Thêm thì làm công nhân lái tàu sông, có đứa thì làm kế toán cho doanh nghiệp, chúng nó đều đã có vợ, có chồng, có đứa sắp được làm ông, làm bà. Tôi cũng được dân làng kể lại sau khi cô Xe sinh hạ đứa bé ấy thì bà Kiền lại chăm bẵm nó như cháu ruột của mình. Mấy bà con vẫn ở với nhau như ruột thịt vậy. Rồi một ngày bà Kiền ốm nặng mấy tháng liền mới mất thì một mình cô Xe chăm sóc, cơm cháo, thuốc men cho bà, cùng với dân làng lo làm đám tang rất chu đáo. Mấy năm trước mẹ con cô còn xây mộ cho bà rất hoành tráng.
Ở xóm trên gia đình nhà cô Thêm cũng vậy, cô cũng không tái giá nữa mà ở vậy phụng dưỡng cha mẹ chồng, mọi người nhà ông Tuất vẫn coi cô như con dâu và đứa con cô sinh ra vẫn được mọi người chăm bẵm, cho ăn học tử tế. Lớn lên nó đi học trung cấp Hàng giang rồi làm thủy thủ tàu sông. Ông Tuất nói với mọi người rằng chỉ có thằng Mỹ là có tội với dân làng thôi chứ đứa bé có tội lỗi gì đâu!
Giờ đây trong làng, ngoài xóm không ai còn nhắc tới cái chuyện các cô gái bị chửa hoang, những đứa trẻ không cha và không ai nhắc tới anh Đức nữa…
Nguyễn Xuân Minh





