Trong lịch sử quan trường nhà Nguyễn, hiếm có ông quan nào lên xuống chức tước ngoạn mục như Nguyễn Công Trứ. Đến ngay chính cụ cũng tự thấy đó là một kỳ tích, nên đưa hẳn vào “Bài ca ngất ngưởng” để nghêu ngao hát trên chiếu ca trù:
“Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.”
Có người làm quan như đi đường cái quan. Từng bước chậm rãi, bằng phẳng, có kiệu lọng, có võng điều. Riêng Nguyễn Công Trứ thì giống cưỡi ngựa qua đèo. Đoạn thì lên dốc dựng đứng. Đoạn thì như mất cương, lao cả người lẫn ngựa xuống vực. Vậy mà cụ vẫn phủi áo đứng dậy, chỉnh lại khăn xếp, xem con ngựa có sao không, rồi đi tiếp như thể vừa vấp một hòn đá nhỏ. Đường làm quan của Nguyễn Công Trứ cứ như bảng giá ngoài chợ phiên. Sáng một giá. Chiều một giá. Hôm nay còn là đại thần. Ngày mai đã thành người đeo gông chịu án.
Thế rồi đến vụ An Giang thì tưởng như đâm đầu thẳng xuống vực!
***
Năm Thiệu Trị thứ tư, tức năm 1844, sự việc bắt đầu khi Nguyễn Công Trứ đang giữ chức Tuần phủ An Giang. Đây là vùng đất trọng yếu ở Nam Kỳ, lại gần biên giới, sông rạch chằng chịt, thuyền bè qua lại tấp nập. Chỗ ấy làm quan dễ có công, song cũng dễ vướng họa. Một chiếc thuyền qua bến. Một viên đội trưởng coi sông. Một chuyến hàng mờ ám. Nếu có người muốn khui ra, tất cả đều có thể thành dây thòng lọng.
“Đại nam thực lục” chép rằng:
“Trong khi Nguyễn Công Trứ đi xem xét công việc khơi sông, viên Đề đốc Quang Mật phát hiện đội trưởng coi bến Châu Giang là Mai Văn Thạch tự tiện cho 4 chiếc thuyền buôn lậu chèo đi. Nguyễn Công Nhàn cùng Phùng Nghĩa Phương tra xét việc ấy, kết luận rằng chiếc thuyền trên do Nguyễn Công Trứ phái người đi thăm dò ở Trấn Tây, nhân cơ hội đó để buôn sừng tê giác và đậu khấu. Nguyễn Công Nhàn đem việc tâu lên nhà vua.”
Với một ông quan bình thường, lời tố ấy đã nguy hiểm. Với Nguyễn Công Trứ, nó còn nguy hiểm gấp bội. Bởi cụ vốn nổi tiếng ngang tàn. Mà người nổi tiếng khi vướng án thường bị nhìn bằng con mắt nghiệt hơn.
Dĩ nhiên, triều đình cũng rất cẩn thận với một đại án như thế này. Cũng theo ghi chép của “Đại Nam thực lục”:
“Vua sai Tham tri Bộ lễ Trần Ngọc Dao cùng Lại khoa Chưởng ấn là Đặng Kham tra xét. Ngọc Dao biết được vụ việc do Nguyễn Công Nhàn vu cáo, bèn kết án tâu rằng: Phùng Nghĩa Phương và Nguyễn Công Nhàn mắc tội vu cáo, xin phạt trượng và đày đi xa….”
Xét đến đây, tưởng như Nguyễn Công Trứ sẽ thoát. Đời lại chẳng dễ như vậy vì bản án vẫn còn vế sau nữa:
“…Còn Nguyễn Công Trứ làm việc sơ suất nên phạt trượng và cách chức.”
Chưa dừng lại ở đó, vua Thiệu Trị còn bồi thêm mấy câu nhận xét:
“Tuy việc thuyền buôn chở đồ gian là do người khác bịa đặt nhưng xét ra việc đưa thuyền đi trấn Tây cũng là “mượn công làm tư”, đó cũng là một tội không thể che giấu được. Vì vậy, Nguyễn Công Trứ bị giáng chức, phái đi làm lính thú ở tỉnh Quảng Ngãi.”
Đòn này đau ở chỗ nó đánh vào cả địa vị lẫn danh dự. Với một nhà nho làm quan, áo mũ đâu chỉ là áo mũ. Nó là cả đời đèn sách, là tên trên bảng vàng, là đường hoạn lộ, là mặt mũi với triều đình, với làng xóm, với tổ tiên. Cách hết chức tước, đưa đi làm lính thú, nghĩa là kéo một ông quan đại thần xuống hàng thấp nhất trong guồng máy quân dịch. Từ người sai khiến kẻ khác thành người chờ kẻ khác sai khiến. Từ người ngồi công đường thành người đứng chầu nơi biên ải. Nói nôm na cho dễ hiểu: Nếu đời quan trường là một ván cờ, đây là nước đi khiến người ta tưởng quân cờ Nguyễn Công Trứ đã bị gạt khỏi bàn.
Ấy vậy mà chính ở cái đáy ấy, Nguyễn Công Trứ lại để lại chuỗi giai thoại khiến đời sau nhắc mãi.
***
Trên đường từ An Giang đi Quảng Ngãi, không có ngựa xe, ông lính Trứ chỉ còn biết đi bộ. Một hôm, đi đến huyện Tuy Phước cũ của tình Bình Định (nay thuộc Gia Lai) thì trời đã tối, liền hỏi thăm tìm chỗ trú nhờ qua đêm. Nghe giọng nói biết ông lính này là người xứ Nghệ, lại thấy ông già cả thương tình nên một người dân sở tại ân cần chỉ cho ông nhà quan Huấn đạo huyện mình và bảo:
– Quan là người đồng hương với ông đấy, tính ngài hiền và trọng người lắm, ông nên vào chào ngài rồi xin ngủ nhờ luôn cho đỡ vất vả.
Nguyễn Công Trứ nghe lời người dân tốt bụng. Quả nhiên, chủ nhà đúng là vị quan tử tế, nhận ra giọng đồng hương của người lính già lỡ độ đường, quan Huấn bảo người nhà dọn cơm nước mời ăn tươm tất rồi cùng ngồi nói chuyện tự nhiên. Khi được biết người lính vừa từ An Giang ra, quan hỏi:
– Ông ở trong đó chắc có biết quan Tuần vũ Nguyễn Công Trứ?
– Thưa, tôi có biết. Thì ra quan Huấn cũng có quen biết với quan Tuần vũ?
– Không, chúng tôi không có cái vinh dự đó, nhưng đã được nghe tiếng cụ rất nhiều, vì cụ cũng là đồng hương với chúng tôi mà! Nào cầm quân đánh giặc, nào khẩn điền, nào thi ca, việc gì cụ cũng giỏi, cũng lừng danh khắp nước! Chúng tôi chỉ coi mình như bậc học trò của cụ, ai ai cũng ao ước được gặp cụ một lần!
Thấy viên quan Huấn đạo này chân tình, lại có lòng quý mến mình như vậy mà mình không nói thực ra thì thật không tiện nên người lính già liền nói:
– Thưa… tôi chính là Nguyễn Công Trứ đây ạ!
Quan Huấn kinh ngạc, nhìn kĩ diện mạo người khách rồi liền sụp xuống lạy. Nguyễn Công Trứ vội vàng đỡ dậy, rồi hai người đồng hương tình cờ gặp nhau ngồi nói chuyện văn chương, thời thế cho đến tận khuya.
***
Khi đến Quảng Ngãi trình diện, cụ mặc đúng quần áo của một người lính. Áo cộc màu chàm. Đầu đội nón dấu. Dáng vẻ của một kẻ đã rũ sạch áo mão quan trường. Quan tỉnh Quảng Ngãi thấy vậy thì ái ngại. Dẫu sao, người trước mặt mình từng là bậc đại thần. Nay để cụ mặc đồ lính đứng giữa công đường, thật khó coi. Họ muốn cụ thay áo, hoặc ít nhất giữ chút thể diện cũ.
Nguyễn Công Trứ đáp một câu rất Nguyễn Công Trứ:
– Xin ông cứ để vậy. Lúc làm tướng tôi không lấy làm vinh, nay làm lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào, có nghĩa vụ đối với địa vị đó. Làm lính mà không mang đồ ấy thì sao gọi là lính được.
Nghe qua tưởng chỉ là một câu nói cứng. Nghĩ kỹ mới thấy đó là cái cốt cách của cả một đời người.
Một bên là tiếng tăm bao trùm khắp muôn nơi. Một bên là thân phận hiện tại quá tàn nát. Và Nguyễn Công Trứ đứng ở giữa, với tinh thần “làm tướng không vinh, làm lính không nhục” vẫn bình thản tuân thủ quy cách mà đón nhận tất cả. Vì thế, vụ An Giang không đơn thuần là một cú ngã trong hoạn lộ. Nó là phép thử xem bên dưới áo mũ đại thần còn lại thứ gì. Ở Nguyễn Công Trứ, thứ còn lại ấy rất cứng: một cái lưng chưa chịu cong.
***
Sau này, Nguyễn Công Trứ còn có những lần trở lại.
Một năm sau, năm Thiệu Trị 5 (1845), nhà vua cho Nguyễn Công Trứ được khởi phục làm Chủ sự Bộ hình, quyền Viên ngoại lang; rồi lại đổi quyền Viên ngoại lang Đại lý tự. Châu bản triều Nguyễn cho biết, năm Thiệu Trị 6 (1846), Nguyễn Công Trứ được bổ tạm quyền Án sát Quảng Ngãi. Tháng 9 năm đó, ông được bổ thụ Phủ thừa phủ Thừa Thiên. Lúc bấy giờ Bố chính và Án sát là 2 chức quan đứng đầu một tỉnh như Quảng Ngãi. Như vậy, chỉ trong vòng 2 năm, Nguyễn Công Trứ từ người lính canh giữ biên thùy, trở thành ông quan đầu tỉnh!
Con đường sự nghiệp ấy còn tiếp tục ngoằn ngoèo, đúng như tính cách và số phận của cụ. Lên. Xuống. Lại lên. Lại xuống. Cứ như ông trời cố tình đem một con người có chí lớn thả vào chiếc cối xay quan trường, để xem nghiền mãi có nát được hay chăng. Kết quả là cối xay ấy làm cụ sứt mẻ nhiều phen. Song nó chẳng nghiền nát được cụ.
Nhờ những cú rơi như vụ An Giang, người đời sau mới thấy rõ Nguyễn Công Trứ hơn. Khi cụ làm quan lớn, ta thấy tài. Khi cụ bị đẩy xuống làm lính, ta thấy khí. Tài khiến người ta nể. Khí khiến người ta nhớ mãi.
Ngô Tiến Vinh





