“Lỡ cả đời không rực rỡ thì sao?”
Trong bài trước bàn về tác phẩm Đời thừa, Nam Cao trả lời câu hỏi ấy bằng bi kịch của văn sĩ Hộ: một nhà văn từng ôm mộng lớn, rồi nhìn tài năng bị cơm áo gạo tiền kéo dần xuống. Hộ không chịu nổi thất bại, đem rượu và sự cay độc trút lên những người gần nhất.
Còn trong Sống mòn, bằng ngòi bút bị liệt vào hàng lạnh lùng nhất Việt Nam của một “cái mặt không chơi được”, Nam Cao thậm chí còn dệt nên một kịch bản tận cùng đen tối hơn nữa mà ông có thể nghĩ được ra. Ở đây, mỗi nhân vật cứ âm thầm gỉ đi, mòn vẹt. Không một cú sụp đổ khiến thiên hạ ngoái nhìn. Chỉ có những ngày giống nhau trong khắc khổ. Rồi ngày mai lại nhợt nhạt như hôm qua. Người ta vẫn sống. Chỉ có điều, mỗi ngày sống qua là một phần đời cứ lay lắt dần vì bị mài mòn mất.
***
Nhân vật trung tâm của “Sống mòn” là Thứ, một trí thức nghèo đã có gia đình, lên Hà Nội dạy tại một trường tư ở ngoại ô của cặp đôi bạn thân đang yêu nhau là Oanh và Đích. Thuở còn đi học, y từng mơ học cao, sang Pháp, trở thành người làm nên những thay đổi lớn lao. Nhưng khi bước ra đời, Thứ đã tự biết tình cảnh của mình sẽ không thể trở thành vĩ nhân. Y chọn trở thành thầy giáo trường tư như bước khởi đầu.
Mỗi ngày, Thứ dạy tám giờ, rồi mang bài về chấm. Tổng cộng, y bận khoảng mười giờ, mệt chẳng kém đi cày. Đổi lại, tiền lương mỗi tháng chỉ có hai chục đồng. Cay đắng ở chỗ Thứ yêu nghề thật lòng. Ban đầu, y tận tụy soạn bài, giảng bài, chăm sóc học trò. Kết quả thi của trường tốt lên, học sinh kéo đến nhiều hơn. Công sức của Thứ khiến trường phát đạt. Thế nhưng, người được lợi lại chẳng phải Thứ. Học trò càng đông, y càng vất vả. Tiền lương vẫn thế. Thành công của nhà trường không đem lại cho người tạo nên nó một đời sống tử tế hơn, chỉ chứng minh rằng người ta có thể khai thác y hiệu quả đến mức nào. Trong đời Thứ, phần thưởng dành cho lao động tốt là thêm việc, không khác gì một con trâu đang trong thời kỳ sung mãn nhất nên bị chủ cố sức ra roi để vỡ đất, khai hoang được nhiều ruộng nương hơn.
Một thực tại phũ phàng đã được Nam Cao lạnh lùng nhắc nhở: Đôi khi, chăm chỉ không giúp con người thoát khỏi chiếc máy nghiền, thậm chí chỉ khiến chiếc máy nghiền quay nhanh hơn.
Thứ từng được hứa rằng một ngày nào đó, ngôi trường sẽ thuộc về y. Y sẽ sửa sang trường lớp, lập tủ sách, trả lương giáo viên xứng đáng, dành lợi nhuận để phát triển nhà trường và chăm lo cho người dạy lúc tuổi già. Ước mơ ấy chẳng hề viển vông. Thứ đã không cần cung điện, xe hơi hay một cái tên khiến cả nước phải biết đến. Y chỉ muốn dựng nên một ngôi trường tử tế, nơi người dạy không bị nghèo đói làm nhục, người học không bị coi như những khoản học phí biết đi. Xét theo cách nói ngày nay, Thứ đã chấp nhận thực tế để hạ thâp tiêu chuẩn tương lai. Y chỉ cần được sống đúng với năng lực, làm công việc mình tin là có ích và hưởng một phần công bằng từ lao động của mình.
Tiếc thay, ngay cả ước vọng ấy cũng thành xa xỉ. Lời hứa trao lại trường chỉ là miếng mồi treo trước mặt. Chừng nào ngôi trường còn sinh lợi, Oanh và Đích còn giữ lấy. Thứ cứ đợi, rồi lại đợi. Y hiểu mình bị lừa mà không dám dứt ra. Y ngại chuyện tiền nong, xấu hổ khi đòi quyền lợi, sợ mang tiếng tính toán, rồi gọi sự cam chịu ấy bằng những cái tên đẹp hơn như tình nghĩa, tự trọng hay nhẫn nại.
Người nghèo đôi khi không bị giữ lại bằng xiềng xích hữu hình, mà bằng chính lòng tự trọng đặt sai chỗ. Cuối cùng, người biết tận dụng sự cả nể thì ngày càng sung túc. Người giữ ý tứ thì càng lúc càng nghèo. Thứ nhìn rõ sự bất công, tức giận vì nó, rồi tiếp tục sống trong nó. Có khi sự tỉnh táo không cứu được con người. Nó chỉ khiến mỗi ngày cam chịu thêm nhục nhã.
***
Nếu Hộ trong Đời thừa đau khổ vì viết những tác phẩm kém xa lý tưởng, Thứ đau khổ vì toàn bộ đời sống của y kém xa khả năng mà y tin mình từng có. Thứ từng nghĩ con người phải làm được điều gì đẹp hơn việc kiếm đủ cơm ăn áo mặc, phải phát triển hết khả năng của mình và để lại một chút gì cho đời.
Nghe rất cao đẹp. Rồi buổi trưa vẫn phải tính tiền cơm. Buổi chiều vẫn phải dạy những giờ học đã chán. Buổi tối vẫn phải chịu đựng căn phòng chật chội và nỗi lo ngày mai. Cái đói không cần tranh luận với con người. Nó chỉ đều đặn xuất hiện vào mỗi bữa, bắt mọi triết lý phải xếp hàng sau nồi cơm. Không ai giết ước mơ của Thứ trong một đêm. Nó chết vì phải nhịn đói quá lâu.
Nếu Đời thừa cho thấy một kẻ thất vọng có thể trở thành hung bạo, Sống mòn lạnh lẽo hơn: nó cho thấy phần lớn con người thậm chí không đủ sức để nổi loạn. Thứ hiểu Oanh lợi dụng mình. Y hiểu thói quen và nỗi sợ đang giữ chân mình. Có lúc y muốn bỏ tất cả, đi bất cứ đâu, sống liều một phen. Rồi y không đi. Y nổi giận trong đầu, dựng một cuộc cách mạng bằng lời độc thoại, tưởng tượng mình vùng dậy, sau đó lại tiếp tục ngày cũ. Bởi y cũng giống Hộ, đã có một gia đình để không thay đổi.
Thế rồi năm này qua năm khác, chính những lựa chọn an toàn nhất lại ghép thành một cuộc đời bất hạnh. Thứ không thiếu nhận thức. Y thiếu năng lực biến nhận thức thành hành động. Y biết căn bệnh của mình, gọi đúng tên từng triệu chứng, rồi sống chung với nó cho đến khi bệnh trở thành tính cách.
Một cuộc đời không rực rỡ chưa chắc đáng sợ. Đáng sợ là nhìn thấy đời mình đang hẹp lại mà không dám bước ra.
***
Ngày nay, câu hỏi “Lỡ cả đời không rực rỡ thì sao?” thường được đáp bằng sự vỗ về: không nổi tiếng cũng được, không giàu có cũng được, miễn là sống tử tế, bình an và biết yêu thương. Lời an ủi ấy cần thiết. Nhưng Sống mòn buộc ta hỏi thêm: thế nào là một cuộc đời bình thường đáng sống, và thế nào là một cuộc đời đang bị mài mòn rồi được khuyên hãy học cách bằng lòng?
Thứ thì khác. Y liên tục phải thu nhỏ mình để vừa với hoàn cảnh trong tình trạng không tự nguyện, rồi coi sự co rút ấy là số phận. Y vẫn nhớ những điều từng muốn làm, vẫn cảm thấy trong mình có những khả năng chưa được sử dụng, nhưng không tìm ra con đường khác. Một sự đầu hàng kéo dài.
Cuối truyện, chiến tranh, lý do bất khả kháng từ bên ngoài, làm giấc mơ ngôi trường tan vỡ. Thứ rời Hà Nội, trở về quê trên một con tàu. Buổi sáng rất đẹp. Trời xanh, nắng chan hòa.
Chỉ có đời Thứ là đang khép lại…
Hà Nội lùi dần sau lưng. Y nhìn thành phố xa đi và cảm thấy đời mình cũng lùi theo. Những giấc mộng học cao, sang Pháp, làm nên thay đổi lớn đã biến mất. Trước mắt y là cảnh thất nghiệp, ăn bám vợ, rồi mốc lên, gỉ đi trong một xó nhà quê. Thứ từng tự nhủ sẽ không về quê, sẽ đi bất cứ đâu. Song con tàu vẫn chạy. Y vẫn trên đó. Thứ biết khi về đến nhà, y sẽ tuyên bố mình phải ra đi. Liên sẽ vuốt tóc, vỗ về và bảo y ở lại. Rồi y sẽ ở lại. Y hiểu chính xác mình sẽ đầu hàng như thế nào ngay cả trước khi cuộc đầu hàng xảy ra.
Còn gì chua chát hơn một con người biết trước từng bước mình sẽ dần đi xuống mà vẫn bước đủ từng bước?
***
Ở cuối Đời thừa, Hộ khóc vì đã làm khổ người mình yêu. Ở cuối Sống mòn, Thứ gần như khóc cho cả một cuộc đời chưa kịp sống. Hộ còn có những cơn say, những lần bùng nổ. Thứ chỉ đứng trên tàu nhìn thành phố lùi xa. Cuộc đời y không vỡ vụn trước mắt mọi người. Nó bị chở đi rất trật tự, đúng tuyến, đúng giờ, không gây phiền hà cho bất kỳ ai.
Đó mới là cái đen tối của Sống mòn. Không ai trói Thứ vào con tàu. Về lý thuyết, y có thể xuống ở một ga nào đó, đổi hướng, làm lại cuộc đời. Nhưng y sẽ không xuống. Sợi dây giữ y được bện bằng thói quen, nghĩa vụ, nỗi sợ, sự nhu nhược và hàng trăm lý do nghe qua đều chính đáng. Ngoài kia là một cuộc sống rộng hơn. Nhưng y vẫn để con tàu mang đi.
“Lỡ cả đời không rực rỡ thì sao?”
Nếu Đời thừa trả lời rằng con người có thể vì không đạt tới ánh sáng mà quay sang thiêu cháy những người gần mình nhất, thì Sống mòn đưa ra câu trả lời còn lạnh lẽo hơn: có khi chẳng có ngọn lửa nào cả! Con người chỉ sống ngày này sang ngày khác, làm công việc mình đã chán, nhận khoản tiền không đủ sống, nuôi những dự định không bao giờ thực hiện, căm ghét sự hèn yếu của mình rồi tiếp tục hèn yếu. Không rực rỡ chưa phải điều tồi tệ nhất. Tồi tệ nhất là không còn sống theo bất kỳ điều gì mình tin, vẫn nhận thức rõ sự mục ruỗng ấy, rồi gọi việc kéo dài nó là ổn định.
Nam Cao không chế giễu những cuộc đời nhỏ bé. Ông xót xa vì con người bị ép phải sống nhỏ hơn khả năng của họ. Xã hội nghèo đói, bất công đã dựng nên chiếc lồng. Thói quen, sự sợ hãi và tính nhu nhược khiến con người tự giữ cửa lồng đóng kín.
Sống mòn không khuyên chúng ta phải bằng mọi giá trở nên rực rỡ để tránh như Thứ. Tác phẩm chỉ nhắc cay nghiệt rằng một đời bình thường và một đời bị bào mòn là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Một người có thể không thành danh mà vẫn sống trọn vẹn các chức năng sinh tồn và sinh học, nhưng phần sống bên trong đã mục đi từ lâu.
“Chết mà chưa sống” chưa chắc là không đạt được thành tựu lớn. Đôi khi, đó là đã dành cả đời để chuẩn bị sống, đợi một cơ hội sống, mơ về một ngày sẽ sống khác đi… Rồi con tàu đến ga cuối. Và mình vẫn chưa từng bước xuống.
Ngô Tiến Vinh





