Trong thú chơi câu đối, có một việc rất dễ khiến người ta sinh lòng kiêu ngạo. Chỉ cần nghĩ được một vế thật hiểm, ném ra giữa chiếu rượu, rồi ngồi vuốt râu nhìn thiên hạ vò đầu bứt tai, người ra câu lập tức đã có thể tự thấy mình cao hơn chung quanh nửa cái đầu. Người đời sau khi nhắc về tình cảnh này thường lấy câu của Mạc Đĩnh Chi để trả lời:
“Xuất đối dĩ, đối đối nan”
Nghĩa là ra câu đối thì dễ, đối lại mới khó.
Từ đó mới thấy, trong nghệ thuật câu đối, có những vế ra được viết để tìm tri âm. Lại có những vế dường như sinh ra cốt để làm khó người đời. Chúng tồn tại hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Người đáp không thiếu. Câu trả lời cũng có lúc rất khéo. Song cứ đem đặt cạnh vế ra, thiên hạ lại lắc đầu:
“Được đấy, mà vẫn chưa thật đã!”
Vậy rốt cuộc, những vế ấy hiểm ở đâu?
***
KIỂU KHÓ THỨ NHẤT: MỘT ÂM MÀ TRÓI CHẶT CẢ LUẬT
Xin bắt đầu bằng một câu khuyết danh mà có lẽ nhiều người đã quen thuộc:
“Tết tới túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế.”
Lời than của một người cuối năm túi rỗng, đang loay hoay tìm một vị hảo tâm để vay tiền ăn Tết mà vẫn chơi chữ tới mức để một chữ “t” trói chặt. Mười hai tiếng liền nhau, tiếng nào cũng mở đầu bằng cùng một phụ âm. Thế mà vẫn có nghĩa rõ ràng. Thậm chí cái âm “t” líu ríu còn rất hợp với cảnh người túng tiền đang cuống quýt tính toán.
Người ra câu đã dựng nên một hành lang hẹp đến mức người đáp bước chân nào cũng dễ va vào tường. Muốn đối chỉnh, vế dưới cũng phải tìm được một phụ âm tương ứng, dùng nó để dựng thành một câu đủ dài, đủ nghĩa, đúng từ loại và có nội dung cân xứng. Đối được ý mà hỏng âm, chưa đạt. Giữ được âm mà câu vô nghĩa, càng chưa đạt. Cố nhồi chữ cho đủ đến mức nghe như người hụt hơi đọc bảng chính tả, cũng khó khiến ai tâm phục.
Điều đáng ngại nhất là vế ra không hề gượng. Nó giống một câu than thật sự có thể bật ra từ miệng người nghèo cuối năm. Càng tự nhiên bao nhiêu, chiếc bẫy càng kín bấy nhiêu.
***
KIỂU KHÓ THỨ HAI: ĐẢO VẦN, ĐỘ KHÓ LÊN MỘT BẬC
Một kiểu hiểm khác nằm ở phép đảo âm, đổi vị trí các tiếng để tạo thành từ mới. Chẳng hạn, vẫn là câu đối khuyết danh:
“Con cá đối nằm trong cối đá.”
“Cá đối” là một loài cá. Đảo lại thành “cối đá”, nó lập tức biến thành một vật dụng. Chỉ một lần đổi vị trí, con vật dưới nước đã nhảy lên bờ rồi chui vào trong chính vật vừa được tạo ra từ tên của nó đảo lại. Hai cụm “cá đối – cối đá” đã khóa chặt lấy nhau. Muốn đáp lại, người đối phải tìm được một cặp từ cũng có thể đảo tiếng cho nhau. Một cụm nên chỉ con vật, con người hoặc sự vật. Cụm còn lại phải trở thành một từ có nghĩa khác. Sau đó, cả hai phải được đặt vào cùng một câu sao cho tự nhiên.
Tìm được hai cụm đảo âm đã khó. Bắt chúng cùng xuất hiện trong một hoàn cảnh hợp lý còn khó hơn. Một vế ra hiểm thường giống chiếc khóa tốt. Bề ngoài càng giản dị, bên trong càng nhiều răng.
***
KIỂU KHÓ THỨ BA: MỘT TIẾNG PHẢI LÀM NHIỀU VIỆC
Tiếng Việt vốn giàu những tiếng đồng âm khác nghĩa. Người nói chỉ cần thay cách ngắt câu, một tiếng đang là tên riêng có thể hóa thành từ thường; một danh từ có thể biến thành động từ; một câu nghiêm túc bỗng trở nên rất tinh quái. Những vế ra chưa đối được thường khai thác đến kiệt cùng đặc điểm ấy.
Ví dụ:
“Đến Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi?”
Củ Chi trước hết là một địa danh. Tách ra, “củ chi” có thể hiểu là “củ gì”. Đảo tiếng, “Củ Chi” lại hóa thành “chỉ cu”, tức một cậu bé nào đó. Một tên đất, một cụm từ đời thường, một lần đảo âm và một câu hỏi đã chen cả vào tám tiếng ngắn ngủi. Người muốn đối lại phải tìm được một địa danh có thật. Địa danh ấy phải được tách thành những từ có nghĩa riêng. Những tiếng đó lại phải đảo được với nhau, rồi ghép thành một hành động hoặc tình huống tương ứng. Sau cùng, toàn câu vẫn phải giữ nhịp 3–2–3 và nghe giống lời người đang nói.
Đến mức ấy, đối câu đã gần thành giải cơ quan. Người đáp thiếu một điều kiện cũng được xem là chưa chỉnh. Địa danh có thật mà không đảo được, hỏng! Đảo được mà câu vô nghĩa, hỏng! Đủ nghĩa nhưng sai nhịp, vẫn hỏng. Mọi cánh cửa đều phải mở bằng cùng một chiếc chìa khóa.
Phải khẳng định rằng tên người, tên đất là mảnh đất rất màu mỡ của kiểu câu đối này. Bởi mỗi địa danh vừa là một khối hoàn chỉnh, vừa có thể bị tách thành những tiếng mang nghĩa riêng. Người Cao Bằng vẫn truyền miệng câu:
“Cao Bằng tuy cao mà bằng, nhưng không nơi nào cao bằng Cao Bằng.”
“Cao Bằng” trước hết là tên một tỉnh. Tách ra, “cao” và “bằng” lại trở thành hai từ thường. Đến cuối câu, cụm “cao bằng Cao Bằng” còn tạo ra một phép so sánh: không đâu cao bằng chính Cao Bằng. Một tên đất được dùng ba lần theo ba cách khác nhau. Lúc là địa danh, lúc là tính chất, lúc lại chen vào cấu trúc so sánh. Câu vừa như nhận xét địa hình, vừa giống lời khoe quê, vừa là một màn tung hứng ngôn ngữ. Muốn đáp, người ta phải tìm một địa danh cũng được tạo bởi những tiếng có nghĩa độc lập. Sau đó, từng tiếng phải được đưa vào câu ở những vai trò khác nhau mà toàn bộ ý nghĩa vẫn trôi chảy.
Tên đất nước ta rất nhiều. Tên đất chịu ngoan ngoãn bước vào đúng chiếc khuôn ấy lại chẳng có bao nhiêu.
***
KIỂU KHÓ THỨ TƯ: CÁI BẪY CỦA CÁCH NGẮT NGHĨA
Có những câu chẳng cần đảo âm, cũng không dùng toàn một phụ âm. Chúng chỉ liên tục lặp lại cùng một tiếng, rồi bắt người đọc phải tự đoán tiếng ấy đang mang nghĩa gì, thuộc từ loại nào. Chẳng hạn:
“Ba anh bắt được ba con ba ba.”
Câu này nghe tưởng dễ hiểu: ba người đàn ông bắt được ba con ba ba. Song tiếng “ba” xuất hiện liên tiếp cùng với những suy luận về các chức năng khác nhau. “Ba anh” có thể là ba người anh, cũng có thể bị hiểu thành “ba của anh”. “Ba con” có thể là số lượng ba con vật, nhưng cũng có thể là bố của con vật đó. Còn “ba ba” lại là tên một loài động vật, nhưng cũng có thể là ám chỉ con số 33! (Cái này hôi những nhà kỹ thuật số chuyên vào ca lúc 6h30 chiều chắc rất hiểu!)
Thế là, chỉ cần thay cách hiểu nghĩa, quan hệ giữa các tiếng đã trở nên nhập nhằng. Người đối chưa kịp tìm vế dưới đã phải quyết định mình đang đối với nghĩa nào. Nếu hiểu “ba” là số đếm, vế đối phải tìm một số khác có khả năng đứng ở nhiều vị trí tương tự. Nếu hiểu “ba” là cha, cấu trúc lại đổi sang quan hệ thân thuộc. Thêm cái lẽ “ba ba” là con vật nữa thì lại phải ra con vật nào tương ứng về âm. Nếu người ra câu còn chơi trò linh hoạt giữa hai kiểu hiểu trên, người đáp rất dễ rơi vào mê hồn trận không thể giải nổi.
Đó là nỗi khó chịu đặc biệt của những vế đối đã không giải được mà còn khuyết danh: người sau chỉ nhìn thấy ổ khóa mà không biết người làm khóa đã cất chìa ở đâu!
***
CUỐI CÙNG, KHÓ NHẤT LÀ CÂU VỪA HIỂM, VỪA TỰ NHIÊN
Thực ra, dùng toàn chữ cùng âm không phải việc không thể. Đảo tiếng cũng chẳng phải phép màu. Tìm từ đồng âm hoặc tách địa danh thành từ thường, người khéo chữ đều có thể làm được. Cái khiến một vế ra trở nên gần như chưa thể đối nằm ở chỗ tất cả những thủ pháp ấy phải xuất hiện cùng nhau mà câu vẫn tự nhiên.
Một câu đáp có thể rất công phu, song người đọc nhìn vào lập tức nhận ra tác giả đang gò chữ. Một vế khác có thể đủ âm, đủ nghĩa, song nội dung lỏng lẻo, chẳng ai hiểu tại sao những sự vật ấy lại đứng cạnh nhau. Có câu chơi chữ rất giỏi, nhưng đọc lên không có duyên. Có câu đúng luật, nhưng không thành lời ăn tiếng nói.
Trong khi đó, những vế ra nổi tiếng thường tạo cảm giác như chúng vốn đã tồn tại trong tiếng Việt từ trước, người ra chỉ tình cờ nhặt được. Chữ nào cũng đứng đúng chỗ, bỏ một tiếng thì thiếu, thay một tiếng thì hỏng. Người đối vì thế phải tìm một câu vừa đúng, vừa hay, vừa tự nhiên, lại khiến người nghe có cảm giác: lẽ ra câu này phải được sinh ra cùng lúc với vế trên.
***
NHƯNG “CHƯA ĐỐI ĐƯỢC” KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ CHƯA AI THỬ!
Khi nói một vế “chưa đối được”, ta cũng nên hiểu cho đúng. Phần lớn những câu nổi tiếng đều đã có người đáp. Có câu nhận được hàng chục, thậm chí hàng trăm phương án. Trong đó, nhiều vế rất thông minh, đáng thưởng thức và hoàn toàn có thể xem là một cách giải thú vị.
Vấn đề nằm ở chỗ: chưa có câu nào khiến số đông đồng ý rằng mọi phương diện đều đã cân xứng. Có câu đứng riêng rất đẹp, đặt cạnh vế ra lại giống hai người ăn mặc sang trọng nhưng chẳng có chuyện gì để nói với nhau.
Bởi vậy, “chưa đối được” thường nên hiểu là: chưa có vế đáp nào đủ sức khiến thiên hạ chịu đồng tình đóng sổ. Mà thiên hạ thì vô cùng. Một vế đáp vừa bước qua được cửa ông này, đến cửa ông khác đã bị giữ lại hỏi giấy. Thành ra, những câu chưa có lời giải cuối cùng vẫn cứ sống. Mỗi thế hệ lại đem vốn từ, kiến thức và sự tinh quái của mình ra thử sức. Có người đối để khoe tài. Có người đối để mua vui. Có người biết khó vẫn làm, bởi cái thú đâu hẳn nằm ở chuyện thắng thua.
Người xưa ra một vế rồi mất. Người sau ngồi nghĩ đến bạc tóc. Biết đâu một ngày, giữa lúc uống trà, đi chợ hoặc trú mưa, có người bỗng tìm ra mấy chữ giải bài. Câu đáp truyền đi, thiên hạ đập bàn khen hay. Ấy mới là lúc người ta hiểu vì sao thú chơi câu đối có thể sống lâu đến thế.
Ngô Tiến Vinh





