Ở phần trước, ta đã thử lần theo những cái bẫy khiến một vế ra trở nên khó đối: khi thì cả câu bị trói vào một phụ âm, khi thì tên đất bị đảo đi đảo lại, lúc lại một tiếng phải gánh đến vài ba nghĩa.

Song câu đối vốn đâu chỉ sống nhờ chữ. Có những vế trở nên nổi tiếng bởi phía sau nó là một người thật, một hoàn cảnh thật hoặc ít nhất là một giai thoại đã được kể đi kể lại đến mức người đời thuộc câu trước khi biết tác giả. Những câu ấy giống một cánh cửa hai lớp. Mở được lớp chữ chưa chắc đã vào được bên trong. Muốn đối cho hay, người đáp còn phải hiểu người ra câu đang vui hay giận, muốn khoe tài hay tự giễu, đang trêu một người trước mặt hay mượn vài tiếng ngắn ngủi để nói về cả một thời.

***

ĐOÀN THỊ ĐIỂM RA MỘT CÂU, TRẠNG QUỲNH MẮC NGOÀI CỬA

Trong kho giai thoại câu đối Việt Nam, có lẽ ít vế nào nổi tiếng bằng năm chữ:

“Da trắng vỗ bì bạch.”

Chuyện thường được kể rằng một hôm Đoàn Thị Điểm đang tắm, Trạng Quỳnh đứng ngoài đòi vào. Nữ sĩ liền ra điều kiện: đối được câu này thì cửa mới mở.

“Da trắng vỗ bì bạch.”

Trạng Quỳnh vốn nổi tiếng lanh trí, gặp câu ấy cũng đành đứng ngoài.

Dĩ nhiên, đây là giai thoại dân gian. Có dị bản kể chuyện xảy ra vào đêm tân hôn, có bản thay Trạng Quỳnh bằng một nhân vật khác, thậm chí cũng có nơi gán câu chuyện cho Hồ Xuân Hương. Bởi vậy, khó có thể coi mọi chi tiết là sử thực.

Song thiên hạ nhớ câu ấy suốt bao đời cũng chẳng phải vô cớ.

“Da” là tiếng thuần Việt, “bì” là tiếng Hán Việt.

“Trắng” là thuần Việt, “bạch” là Hán Việt.

“Da trắng”“bì bạch” cùng mang một nghĩa, thành ra ngay trong vế ra đã có một cặp tự đối rất chỉnh. Chưa hết, hai tiếng “bì bạch” khi đọc lên còn gợi đúng âm thanh bàn tay vỗ lên da thịt. Năm chữ mà vừa có nghĩa, có âm thanh, có hình ảnh, lại có một cảnh ngộ hơi kín đáo phía sau. Người muốn đáp lại phải tìm được hai cụm từ đồng nghĩa thuộc hai lớp từ khác nhau, đồng thời cụm sau còn phải mô phỏng được âm thanh phát sinh từ hành động ở cụm trước. Chỉ sai một mắt xích, cả câu lập tức lỏng.

Người đời đã thử đáp:

“Trời xanh màu thiên thanh.” – Trạng Quỳnh.

Hoặc:

“Rừng sâu mưa lâm thâm.” – Nguyễn Tài Cẩn.

“Trời xanh – thiên thanh” giữ được cặp thuần Việt và Hán Việt đồng nghĩa. “Rừng sâu – lâm thâm” lại có thêm âm mưa rơi lâm thâm. Mỗi câu đều có chỗ khéo, song vẫn bị người khó tính chỉ ra rằng chưa câu nào kín hoàn toàn như vế đầu. “Thiên thanh” có nghĩa trời xanh, nhưng chẳng tạo nên âm thanh của động tác “màu”. “Lâm thâm” nghe giống mưa nhỏ, song “lâm thâm” lại không thật sự tương đương trọn vẹn với “rừng sâu”.   Thành ra, câu đối đã có lời đáp mà vẫn mang tiếng chưa được đối.

Có lẽ phần hiểm nhất còn nằm ở chính hoàn cảnh giai thoại. Người ra câu đang ở trong buồng tắm. Vế đối vừa phải chỉnh chữ, vừa phải đáp lại được cái ý tinh nghịch và riêng tư ấy.

Đúng luật mà vô duyên thì chưa hay.

Có duyên mà sai luật thì chưa chỉnh.

Trạng Quỳnh đứng ngoài cửa có lẽ còn dễ chịu hơn người đời sau. Cụ chỉ cần nhận thua một lần. Hậu thế thì cứ phải đối mãi.

***

MỘT VẾ CÂU CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG AN HAY CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI?

Một độc giả lớn tuổi trong lúc đàm luận văn học với mình vào năm 2025 đã nhớ lại một câu từng đọc từ rất lâu:

“Hình như cụ Nguyễn Đình Thi, lâu quá rồi, chắc cũng phải năm mươi lăm năm, có đăng trên báo Công an nhân dân hồi đó. Tôi đọc một lần mà nhớ đến bây giờ vì không đối lại được.”

Vế được người đọc nhớ lại như sau:

“Thằng người nhái định vào bắt cóc, cóc bắt được ai, bị tóm trơ mắt ếch!”

Chỉ một câu ngắn mà cả ao hồ đã bị kéo vào. “Người nhái” trước hết là người được huấn luyện để hoạt động dưới nước. “Bắt cóc” là hành vi bắt một người mang đi trái phép. Song “nhái”“cóc” đồng thời lại là tên hai loài lưỡng cư. Nếu thêm “trơ mắt ếch”, con ếch tiếp tục xuất hiện dưới dạng một thành ngữ chỉ sự ngơ ngác, bất lực. Thế là nhái, cóc, ếch vừa là cả một dây họ lưỡng cư, vừa biến thành nghề nghiệp, hành động và trạng thái con người.

Câu này còn có một cái thú rất hợp với công việc Công an: kẻ định đi bắt người cuối cùng lại bị bắt.

“Định vào bắt cóc, cóc bắt được ai, bị tóm ngược lại.”

Chữ “bắt” đi từ kẻ phạm tội sang người thi hành pháp luật. Cuộc đột nhập vừa mở ra đã bị xoay ngược. Kẻ tưởng mình là người đi săn, chưa kịp bắt ai đã trở thành kẻ bị bắt. Muốn đối được vế ấy, người đáp phải tìm một nhóm tên con vật khác cùng họ, cũng đồng thời chỉ người, nghề nghiệp, động tác và thành ngữ. Sau đó, tất cả phải được xếp thành một câu chuyện có tình tiết đảo ngược tương tự. Khó khủng khiếp!

Tuy nhiên, ở đây phải nói rõ một điều: hiện chưa tìm thấy bản báo cũ đủ sức xác nhận Nguyễn Đình Thi chính là tác giả, cũng chưa xác định được nguyên văn đầy đủ của câu. Lời kể đáng quý ở chỗ nó cho thấy vế này từng được lưu truyền và gây ấn tượng sâu đậm với độc giả. Song từ một ký ức đã hơn nửa thế kỷ đến một văn bản có tác giả xác định vẫn còn một khoảng cách.

Bởi vậy, tốt nhất nên gọi đây là vế câu được một độc giả nhớ là từng đăng trên Báo Công an nhân dân và hình như được gán cho Nguyễn Đình Thi.

Chữ “hình như” ở đây chẳng làm câu chuyện kém hay. Trái lại, nó nhắc ta rằng văn chương truyền miệng, nhất là mấy kiểu câu đối vui này, có khi sống rất dai, còn tên người viết lại mờ dần. Có câu chữ người ta nhớ nguyên từng nhịp, nhưng nơi đăng, năm đăng và người viết thì thời gian đã xóa nhòe. Biết đâu trong kho báo cũ vẫn còn số báo ấy. Biết đâu một ngày nào đó, có người tìm được nguyên văn, trả lại câu đối cho đúng tác giả của nó.

***

KIM LÂN “NHÉT” BA NHÀ VĂN CÙNG TÁC PHẨM TƯƠNG ỨNG CỦA HỌ VÀO MỘT CÂU

“Một ngày chủ nhật, ông lão hàng xóm thao thức, tưởng Kim Lân giỏi!”

Đọc như một câu văn bình thường, ta có thể hiểu: vào một ngày chủ nhật, ông lão hàng xóm thao thức, tưởng rằng Kim Lân giỏi. Nghe cũng có nghĩa, song hơi lạ vì có nhiều thứ khá mơ hồ.  Chìa khóa chỉ xuất hiện khi người đọc biết rằng:

– Một ngày chủ nhật được chắp bút bởi Nguyễn Huy Tưởng.

– Ông lão hàng xóm là truyện của Kim Lân.

– Thao thức là tác phẩm của Đoàn Giỏi.

Ba nhan đề ghép lại thành nửa đầu:

“Một ngày chủ nhật, ông lão hàng xóm thao thức…”

Ba tên tác giả lại ghép thành nửa cuối:

“Tưởng, Kim Lân, Giỏi!”

Chữ “Tưởng” vừa là tên Nguyễn Huy Tưởng, vừa là động từ “tưởng”. “Kim Lân” đứng nguyên tên nhà văn, đồng thời trở thành đối tượng được nói đến trong câu. “Giỏi” vừa là tên Đoàn Giỏi, vừa là tính từ khen tài.

Thế là ba tác phẩm đứng trước, ba tác giả theo sau. Tất cả xếp thành một câu trọn nghĩa, có đủ chủ thể, hành động và lời bình.

Hoàn cảnh ra đời của nó lại khiến câu thêm phần chua chát. Vào khoảng những năm 1957–1958, cả ba tác phẩm nói trên đều từng bị phê bình khá nặng. Kim Lân sau này nhớ lại rằng cả ba nhà văn đều “bị đập tới số”. Ông bèn ghép tên ba tác phẩm và ba tác giả thành một vế, rồi thách ai đối được thì tài. Song phía sau tiếng cười của sự vụ là tâm trạng của những nhà văn từng trải qua một giai đoạn phê bình văn nghệ căng thẳng. Kim Lân lấy chính tên mình, tên bạn và tác phẩm đang bị phê phán để làm thành một câu tự giễu: Khen đấy mà hóa ra chưa chắc đã là khen!

Muốn đối được, người sau phải tìm thêm ít nhất ba tác giả khác. Mỗi người phải có một tác phẩm với nhan đề thích hợp. Ba nhan đề ấy ghép lại phải thành một mệnh đề tự nhiên. Tên ba tác giả cũng phải nối tiếp thành phần còn lại của câu, trong đó một phần tên riêng có thể chuyển thành động từ, danh từ hoặc tính từ thông dụng. Chưa hết, câu mới tốt nhất cũng phải gắn với một hoàn cảnh chung, mang một tầng ý nghĩa hài hước hoặc tự trào tương tự.

Đến đây, người đối lại không còn đơn thuần chỉ biết giỏi chữ, mà phải am hiểu lịch sử nền văn học Việt Nam nữa!

***

Tóm lại, một vế đối gắn với tác giả và giai thoại đi kèm còn thách người đối lại bằng tính cách và hoàn cảnh của người ra câu.  Chữ trong những câu ấy không đứng một mình mà còn có thể kéo theo một con người, một câu chuyện, đôi khi là cả một thời đại. Thành ra, người đáp có thể làm được một vế rất chỉnh về âm luật mà vẫn chưa chạm đến thần thái. Giống như vẽ đúng khuôn mặt mà thiếu ánh mắt: đường nét đều đủ, người quen nhìn vào vẫn bảo chưa giống.

Cũng vì thế, nói những câu trên “không đối được” chưa hẳn là tuyệt đối chính xác. Có thể đã có nhiều lời đáp được đề xuất, trong đó chẳng thiếu câu thông minh. Điều còn thiếu là một vế khiến phần đông người đọc vừa nhìn đã phải thừa nhận là khớp. Mà sự đồng thuận ấy trong văn chương hiếm lắm.

Còn hiện tại, các vế ấy vẫn cứ ung dung chờ trong các kho tàng văn học. Trong khi chính các chủ nhân làm ra nó đã trở thành người thiên cổ.

Ngô Tiến Vinh